VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

CỔNG THÔNG TIN KINH TẾ VIỆT NAM

Tin nổi bật

Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2020

04/05/2020 - 166 Lượt xem

 

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 4/2020 gặp khó khăn do hạn hán, xâm nhập mặn ảnh hưởng đến trồng trọt và nuôi trồng thủy sản; dịch tả lợn châu Phi được kiểm soát nhưng tốc độ tái đàn chậm; dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất, tiêu thụ và xuất, nhập khẩu nông sản. Sản lượng gỗ khai thác và sản lượng thủy sản trong tháng đều giảm so với cùng kỳ năm trước.

a) Nông nghiệp

Trong tháng Tư, sản xuất nông nghiệp tập trung vào chăm sóc cây trồng vụ đông xuân ở phía Bắc; thu hoạch lúa, hoa màu vụ đông xuân và gieo trồng lúa hè thu ở phía Nam. Tính đến ngày 15/4, cả nước gieo cấy được 3.021,3 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 96,8% cùng kỳ năm trước. Các địa phương phía Bắc gieo cấy lúa đông xuân đạt 1.097,2 nghìn ha, bằng 98,5% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Hồng đạt 502,1 nghìn ha, bằng 97,5% (giảm 12,7 nghìn ha) do một số địa phương chuyển đổi cơ cấu sản xuất và mục đích sử dụng đất[1]. Hiện nay, lúa đông xuân tại các địa phương phía Bắc sinh trưởng và phát triển tốt, đang trong giai đoạn làm đòng, chuẩn bị trổ bông, tuy nhiên độ ẩm cao, mưa nắng xen kẽ nên sâu bệnh dễ phát sinh, ngành Nông nghiệp cần tập trung khoanh vùng khống chế dịch bệnh và tổ chức theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, tăng cường kiểm tra đồng ruộng để tránh lây lan trên diện rộng. Tại các địa phương phía Nam, diện tích xuống giống lúa đông xuân đạt 1.924,1 nghìn ha, bằng 95,9% cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của hạn hán và xâm nhập mặn, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.546,5 nghìn ha, giảm 58 nghìn ha do chuyển đổi mục đích sử dụng đất[2].

Đến trung tuần tháng Tư, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1.679,8 nghìn ha lúa đông xuân, chiếm 87,3% diện tích xuống giống và bằng 97,6% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1.487,7 nghìn ha, chiếm 96,2% và bằng 97,2%. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, năng suất lúa đông xuân vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm nay ước tính đạt 68,2 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng đạt 10,55 triệu tấn, giảm 329,8 nghìn tấn.

Trên những diện tích lúa đông xuân đã thu hoạch, các địa phương tiến hành vệ sinh đồng ruộng, cày ải, phơi đất để xuống giống vụ hè thu. Tính đến ngày 15/4, các địa phương phía Nam gieo sạ được 602,2 nghìn ha lúa hè thu, bằng 96,8% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 589,8 nghìn ha, bằng 96,8%. Tiến độ gieo trồng lúa hè thu năm nay chậm hơn cùng kỳ năm 2019 do ảnh hưởng của hạn hán và xâm nhập mặn. Hiện nay, lúa hè thu đang ở giai đoạn mạ đến làm đòng. Các địa phương phía Nam đang bước vào cao điểm mùa khô hạn, ngành Nông nghiệp cần khuyến cáo các địa phương áp dụng kỹ thuật canh tác để hạn chế tác động của khô hạn đến sản xuất, đồng thời bảo đảm nguồn nước tưới cho cây lúa, rà soát cơ cấu mùa vụ và điều chỉnh thời vụ gieo trồng đảm bảo khung thời vụ tốt nhất cho vụ tiếp theo.

Tính đến giữa tháng Tư, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 387,7 nghìn ha ngô, bằng 97,4% cùng kỳ năm trước; 62,3 nghìn ha khoai lang, bằng 92,3%; 126,7 nghìn ha lạc, bằng 99,1%; 15,5 nghìn ha đậu tương, bằng 89,6% và 586,2 nghìn ha rau đậu, bằng 100,7%. Nhìn chung, các cây màu được gieo trồng đúng thời vụ, sinh trưởng và phát triển tốt.

Chăn nuôi trâu, bò trong tháng ổn định; dịch tả lợn châu Phi tiếp tục được kiểm soát trên cả nước, các cơ sở chăn nuôi quy mô lớn đang thực hiện tái đàn; chăn nuôi gia cầm phát triển tốt. Ước tính tháng Tư, đàn trâu cả nước giảm 2% so với cùng thời điểm năm 2019; đàn bò tăng 3,8%; đàn lợn giảm 13,2%; đàn gia cầm tăng 14%. Tính đến ngày 26/4/2020, cả nước không còn dịch tai xanh trên lợn; có 1 ổ dịch cúm gia cầm A/H5N6 tại Ninh Bình, 1 ổ dịch cúm gia cầm A/H5N1 tại Cần Thơ chưa qua 21 ngày và 2 ổ dịch lở mồm long móng tại Kon Tum. Dịch tả lợn châu Phi tái phát 6 ổ dịch tại 2 địa phương[3]. Hiện nay cả nước có 106 xã thuộc 47 huyện của 20 địa phương có ổ dịch tả lợn châu Phi chưa qua 30 ngày.

b) Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp trong tháng tập trung trồng rừng vụ xuân hè ở các địa phương phía Bắc. Trong tháng Tư, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 27,6 nghìn ha, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 7 triệu cây, giảm 1,1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.106 nghìn m3, giảm 11,7%; sản lượng củi khai thác đạt 1,6 triệu ste, giảm 5,3%. Dịch Covid-19 ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất lâm nghiệp trong tháng, xuất khẩu gỗ giảm, nhiều nhà máy chế biến gỗ tạm dừng hoạt động hoặc hạn chế thu mua gỗ nguyên liệu. Sản lượng gỗ khai thác giảm sâu chủ yếu ở các tỉnh: Quảng Bình đạt 20,5 nghìn m3, giảm 48% so với cùng kỳ năm trước; Quảng Ngãi đạt 90,5 nghìn m3, giảm 44,2%; Quảng Trị đạt 67,9 nghìn m3, giảm 43,8%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 60,2 nghìn ha, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 28,7 triệu cây, giảm 0,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 3.987 nghìn m3, giảm 0,2%; sản lượng củi khai thác đạt 6,2 triệu ste, giảm 1,3%.

Công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng tiếp tục được tăng cường. Tuy nhiên, do thời tiết nắng nóng và người dân bất cẩn khi đốt nương làm rẫy nên hiện tượng cháy rừng vẫn xảy ra ở một số địa phương. Trong tháng Tư, cả nước có 169,7 ha rừng bị thiệt hại, tăng 38,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 92,9 ha, tăng 58,5%; diện tích bị chặt phá là 76,7 ha, tăng 20,1%. Tính chung 4 tháng đầu năm, diện tích rừng bị thiệt hại là 520,9 ha, tăng 89% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 311,5 ha, gấp 2,8 lần; diện tích rừng bị chặt phá là 209,4 ha, tăng 28,8%.

c) Thủy sản

Sản xuất thủy sản trong tháng tiếp tục gặp nhiều bất lợi do dịch Covid-19, thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước và xuất khẩu đều giảm mạnh, tình trạng hạn mặn kéo dài ảnh hưởng đến tiến độ thả nuôi tôm vụ mới. Sản lượng thủy sản tháng Tư ước tính đạt 697,8 nghìn tấn, giảm 3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 522,7 nghìn tấn, giảm 4%; tôm đạt 73,1 nghìn tấn, tăng 0,3%; thủy sản khác đạt 102 nghìn tấn, giảm 0,2%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng Tư ước tính đạt 358,3 nghìn tấn, giảm 4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 254,9 nghìn tấn, giảm 6%; tôm đạt 62,9 nghìn tấn, tăng 0,5%; thủy sản khác đạt 40,5 nghìn tấn, tăng 2,8%. Nuôi cá tra gặp nhiều khó khăn, giá cá tra giảm sâu, người nuôi thua lỗ nặng[4]. Nguyên nhân do sản lượng cá tra xuất khẩu vào các thị trường chính (Mỹ, Trung Quốc, EU) giảm, các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu hạn chế thu mua cá nguyên liệu nhằm giảm chi phí bảo quản. Sản lượng cá tra trong tháng ước tính đạt 102,1 nghìn tấn, giảm 9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Đồng Tháp đạt 33,8 nghìn tấn, xấp xỉ cùng kỳ năm trước; An Giang đạt 32,3 nghìn tấn, giảm 6,1%; Cần Thơ đạt 14,9 nghìn tấn, giảm 4,5%; Bến Tre đạt 8,6 nghìn tấn, giảm 35,8%. Nuôi tôm nước lợ bị ảnh hưởng kép do xâm nhập mặn kéo dài và giá giảm so với các tháng đầu năm nên người nuôi chưa đồng loạt thả giống mới như mọi năm. Sản lượng tôm sú tháng Tư ước tính đạt 20,6 nghìn tấn, giảm 8,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 38,9 nghìn tấn, tăng 2,4%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng 4/2020 ước tính đạt 339,5 nghìn tấn, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác biển đạt 325 nghìn tấn, giảm 2%. Tháng Tư bắt đầu vào vụ cá Nam, giá nhiên liệu giảm sâu là điều kiện tốt cho bà con ngư dân bám biển nhưng do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên tiêu thụ sản phẩm có xu hướng giảm, đặc biệt giá mỗi tấn cá ngừ đại dương đã giảm từ 10-15 triệu đồng. Do vậy, một số tàu đánh bắt cá ngừ đại dương và đánh bắt xa bờ không thu được lợi nhuận nên hạn chế ra khơi.

Tính chung 4 tháng đầu năm, sản lượng thủy sản ước tính đạt 2.200,9 nghìn tấn, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 1.020,4 nghìn tấn, giảm 0,1%; sản lượng khai thác đạt 1.180,5 nghìn tấn, tăng 0,8%.

 

Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15 tháng 4 năm 2020
 
 
  2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp trong tháng Tư chịu ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19, ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp giảm mạnh 10,5% so với cùng kỳ năm trước và là mức giảm duy nhất của tháng Tư trong giai đoạn 2016-2020[5]. Tính chung 4 tháng đầu năm 2020, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp chỉ tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất trong nhiều năm qua.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 4/2020 ước tính giảm 13,3% so với tháng trước và giảm 10,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 10,7%; ngành chế biến, chế tạo giảm 11,3%; sản xuất và phân phối điện giảm 6,9%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 2%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, IIP ước tính tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 3%, đóng góp 2,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,9%, đóng góp 0,3 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,6%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 6,8%, làm giảm 1,1 điểm phần trăm trong mức tăng chung.

Trước bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên thế giới, tình trạng thiếu nguyên liệu nhập khẩu đầu vào phục vụ sản xuất gây ảnh hưởng nặng nề đến ngành công nghiệp. Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 4 tháng đầu năm giảm sâu hoặc tăng rất thấp so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất xe có động cơ giảm 14,2%; sản xuất đồ uống giảm 13,9%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 10,8%; sản xuất máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 9,3%; chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 8,8%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị giảm 8,2%; sản xuất trang phục giảm 6,3%; sản xuất thiết bị điện giảm 3,6%; sản xuất các sản phẩm khoáng phi kim loại khác giảm 1,8%; sản xuất kim loại giảm 1,7%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 0,5%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 0,7%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 1,3%; dệt tăng 1,4%. Bên cạnh đó, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 4 tháng tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 25,9%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 16,9% (sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 18%); khai thác quặng kim loại tăng 16,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 9,7%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 8,8%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 8,2%...

Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong 4 tháng giảm sâu và tăng thấp so với cùng kỳ năm trước như: Bia giảm 24,1%; ô tô giảm 23,8%; đường kính giảm 23,5%; xe máy giảm 16,6%; dầu thô khai thác giảm 12%; khí hóa lỏng LPG giảm 11,8%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 9,8%; vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 8,5%; thức ăn gia súc giảm 7,8%; sắt thép thô giảm 7,1%; quần áo mặc thường giảm 5,9%; giày, dép da giảm 4,9%; thép cán giảm 4%; phân hỗn hợp NPK giảm 3,1%; vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 1,7%; thức ăn cho thủy sản giảm 1%; alumin giảm 0,7%; sữa tươi tăng 0,6%; ti vi tăng 1%; xi măng tăng 1,3%; thủy hải sản chế biến tăng 1,9%; sơn hóa học tăng 2,6%; điện sản xuất tăng 3%. Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Linh kiện điện thoại tăng 28,5%; bột ngọt tăng 19,2%; xăng dầu các loại tăng 13,9%; phân u rê tăng 11,7%; thép thanh, thép góc tăng 7,7%; than sạch và nước máy thương phẩm cùng tăng 5,5%.

Sản xuất công nghiệp tháng 4/2020 sụt giảm mạnh do tác động của dịch Covid-19 làm cho phần lớn các doanh nghiệp phải cắt giảm lao động. Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/4/2020 giảm 1,1% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 1,6% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2019 tăng 2,3%), trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp ngoài Nhà nước cùng giảm 2,9%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 0,7%. Tại thời điểm trên, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 3,2% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo giảm 1,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 1,1%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 0,7%.

 

Chỉ số sản xuất công nghiệp
 
   3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[6]

Đăng ký doanh nghiệp trong tháng Tư chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19, cả nước có 7.885 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký 93,9 nghìn tỷ đồng, giảm 46,9% về số doanh nghiệp và giảm 43,8% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm, cả nước có 37,6 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 13,2% so với cùng kỳ năm trước, đáng chú ý là số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn lên tới 22,7 nghìn doanh nghiệp, tăng 33,6%.

Trong tháng 4/2020, cả nước có 7.885 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 93,9 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 72 nghìn lao động, giảm 35,7% về số doanh nghiệp, giảm 28,6% về vốn đăng ký và giảm 16,4% về số lao động so với tháng 3/2020. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 11,9 tỷ đồng, tăng 11,2% so với tháng trước và tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2019. Trong tháng, cả nước còn có 3.810 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 11,3% so với tháng trước và tăng 40,4% so với cùng kỳ năm 2019, đây là tín hiệu cho thấy một bộ phận doanh nghiệp đang tái khởi động để chuẩn bị đón cơ hội kinh doanh mới khi dịch Covid-19 được kiểm soát; 4.121 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 68,1% và tăng 65,2%; 2.166 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 22,2% và tăng 13,8%; 980 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 25,5% và giảm 17,6%; 2.864 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, giảm 51,6% và tăng 42,8%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, cả nước có 37,6 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 445,2 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 315,7 nghìn lao động, giảm 13,2% về số doanh nghiệp, giảm 17,9% về vốn đăng ký và giảm 29,7% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 4 tháng đạt 11,8 tỷ đồng, giảm 5,5% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 680,9 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 11,7 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 4 tháng đầu năm là 1.126,1 nghìn tỷ đồng, giảm 20,4% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, còn có 17,8 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 2,1% so với 4 tháng đầu năm 2019, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 4 tháng lên 55,4 nghìn doanh nghiệp, trung bình mỗi tháng có 13,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Theo khu vực kinh tế, 4 tháng đầu năm có 558 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, giảm 6,2% so với cùng kỳ năm trước; có 10,5 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, giảm 10,7%; có 26,5 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, giảm 14,3%. Trong tất cả các ngành, lĩnh vực hoạt động có duy nhất ngành sản xuất phân phối điện, nước, gas có số doanh nghiệp thành lập mới tăng với 527 doanh nghiệp, tăng 40,5% so với cùng kỳ năm trước. Các ngành còn lại đều có số doanh nghiệp thành lập mới giảm: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 12.717 doanh nghiệp, giảm 10,6% so với cùng kỳ năm 2019; xây dựng 5.011 doanh nghiệp, giảm 13,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo 4.821 doanh nghiệp, giảm 12,1%; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác 3.473 doanh nghiệp, giảm 4%; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác 2.055 doanh nghiệp, giảm 18,7%; kinh doanh bất động sản 1.742 doanh nghiệp, giảm 29,1%; vận tải, kho bãi 1.615 doanh nghiệp, giảm 14,5%; dịch vụ lưu trú và ăn uống 1.540 doanh nghiệp, giảm 23,3%; thông tin truyền thông 1.177 doanh nghiệp, giảm 3,7%; giáo dục và đào tạo 968 doanh nghiệp, giảm 24,8%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 388 doanh nghiệp, giảm 13,4%; nghệ thuật, vui chơi, giải trí 261 doanh nghiệp, giảm 38,4%.

Trong 4 tháng, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 22,7 nghìn doanh nghiệp, tăng 33,6% so với cùng kỳ năm trước; gần 14 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 19,2%, trong đó có 2.903 doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; 5.277 doanh nghiệp đăng thông báo giải thể và 5.776 doanh nghiệp chờ làm thủ tục giải thể với cơ quan thuế.

Cũng trong 4 tháng đầu năm có 5,1 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 3,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có gần 4,6 nghìn doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, giảm 4,5%; 75 doanh nghiệp có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng, tăng 8,7%. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 1,9 nghìn doanh nghiệp; công nghiệp chế biến, chế tạo có 599 doanh nghiệp; xây dựng có 425 doanh nghiệp; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác có 312 doanh nghiệp; dịch vụ lưu trú và ăn uống có 302 doanh nghiệp; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng, các dịch vụ hỗ trợ khác và kinh doanh bất động sản đều có 279 doanh nghiệp; vận tải, kho bãi và giáo dục, đào tạo đều có 202 doanh nghiệp; thông tin truyền thông có 190 doanh nghiệp. Trong 4 tháng, trên cả nước còn có 14,3 nghìn doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước.

Một số chỉ tiêu về doanh nghiệp
 
Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới(*)
 
Doanh nghiệp quay trở lại hoạt động
 
Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn
 
Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể
 
 
  4. Đầu tư                                     

Diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 ảnh hưởng đến tiến độ thi công các dự án, công trình. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 4/2020 ước tính đạt 23,2 nghìn tỷ đồng, thấp hơn tháng 3/2020[7] và đạt mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ năm trước trong giai đoạn 2016-2020[8]. Tính chung 4 tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 18,1% kế hoạch năm[9], tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 4 tháng đạt 5,2 tỷ USD, giảm 9,6%[10].

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 4/2020 ước tính đạt 23,2 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn Trung ương 3,6 nghìn tỷ đồng, tăng 31%; vốn địa phương 19,6 nghìn tỷ đồng, giảm 3,2%. Tính chung 4 tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 83,7 nghìn tỷ đồng, bằng 18,1% kế hoạch năm và tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 bằng 19,3% và tăng 4%), gồm có:

- Vốn Trung ương quản lý đạt 12,3 nghìn tỷ đồng, bằng 15,8% kế hoạch năm và tăng 32,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Bộ Giao thông Vận tải đạt 2.778 tỷ đồng, bằng 16% và tăng 37,2%; Bộ Y tế 1.028 tỷ đồng, bằng 19,3% và tăng 34,8%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 662 tỷ đồng, bằng 14,9% và tăng 25,9%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 423 tỷ đồng, bằng 14,1% và tăng 87,7%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 161 tỷ đồng, bằng 12,5% và giảm 8%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 99 tỷ đồng, bằng 15,1% và giảm 27,9%; Bộ Công Thương 59 tỷ đồng, bằng 15,3% và tăng 46,7%; Bộ Xây dựng 45 tỷ đồng, bằng 13,1% và tăng 7,4%; Bộ Khoa học và Công nghệ 37 tỷ đồng, bằng 14,7% và giảm 39,1%; Bộ Thông tin và Truyền thông 18 tỷ đồng, bằng 14,3% và giảm 26,6%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 71,4 nghìn tỷ đồng, bằng 18,6% kế hoạch năm và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 47,7 nghìn tỷ đồng, bằng 17,8% và tăng 9%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 19,8 nghìn tỷ đồng, bằng 19,7% và tăng 12,1%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 3,9 nghìn tỷ đồng, bằng 24,5% và tăng 14,9%. Vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 4 tháng đầu năm của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 9.476 tỷ đồng, bằng 20,9% kế hoạch năm và giảm 2,1% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 4.413 tỷ đồng, bằng 9,2% và tăng 5,4%; Quảng Ninh 2.733 tỷ đồng, bằng 21,3% và tăng 17,9%; Thanh Hóa 2.499 tỷ đồng, bằng 24,4% và tăng 10,9%; Bà Rịa - Vũng Tàu 2.258 tỷ đồng, bằng 23,3% và tăng 12,5%; Bình Dương 2.132 tỷ đồng, bằng 16% và tăng 11,3%; Nghệ An 1.875 tỷ đồng, bằng 24,2% và tăng 11,9%; Quảng Nam 1.814 tỷ đồng, bằng 27,7% và giảm 2,9%; Hải Phòng 1.784 tỷ đồng, bằng 22,1% và giảm 1,7%.

Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến ngày 20/4/2020 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 12,3 tỷ USD, giảm 15,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 984 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 6,8 tỷ USD, giảm 9,1% về số dự án và tăng 26,9% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; có 335 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 3 tỷ USD, tăng 45,6%; có 3.210 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn gần 2,5 tỷ USD, giảm 65,3%. Trong tổng số lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 584 lượt góp vốn làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 0,9 tỷ USD và 2.626 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 1,6 tỷ USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 4 tháng đầu năm ước tính đạt 5,2 tỷ USD, giảm 9,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 3.809,7 triệu USD, chiếm 74% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 543,4 triệu USD, chiếm 10,6%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 452,7 triệu USD, chiếm 8,8%.

Trong 4 tháng đầu năm, ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 4 tỷ USD, chiếm 59% tổng số vốn đăng ký cấp mới; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 2,2 tỷ USD, chiếm 32,9%, các ngành còn lại đạt 546,3 triệu USD, chiếm 8,1%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt gần 5 tỷ USD[11], chiếm 50,3% tổng số vốn; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 3,8 tỷ USD[12], chiếm 39,1%; các ngành còn lại đạt 1,1 tỷ USD chiếm 10,6%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt hơn 1 tỷ USD, chiếm 40,6% tổng vốn; bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 508,2 triệu USD, chiếm 20,5%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 250,3 triệu USD, chiếm 10,1%; các ngành còn lại đạt 713 triệu USD, chiếm 28,8%.

Trong số 57 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 4 tháng đầu năm, Xin-ga-po là nhà đầu tư lớn nhất với 4.268,1 triệu USD, chiếm 62,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; Đài Loan 646,4 triệu USD, chiếm 9,5%; Trung Quốc 507,2 triệu USD, chiếm 7,5%; Đặc khu hành chính Hồng Công (TQ) 380,5 triệu USD, chiếm 5,6%; Hàn Quốc 376 triệu USD, chiếm 5,5%; Nhật Bản 194,2 triệu USD, chiếm 2,9%; Quần đảo Cay-man 100 triệu USD, chiếm 1,5%.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 4 tháng đầu năm có 45 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn đầu tư của phía Việt Nam là 53,1 triệu USD; có 9 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm đạt 15,8 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 4 tháng đạt 68,9 triệu USD, trong đó lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 29,1 triệu USD, chiếm 42,2% tổng vốn đầu tư; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 15,2 triệu USD, chiếm 22,1%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 12 triệu USD, chiếm 17,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 9 triệu USD, chiếm 13,1%. Trong 4 tháng đầu năm có 18 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó Mi-an-ma là nước dẫn đầu với 21,2 triệu USD, chiếm 30,8%; Hoa Kỳ 20,5 triệu USD, chiếm 29,8%; Xin-ga-po 15,9 triệu USD, chiếm 23,1%; Cam-pu-chia 15,5 triệu USD, chiếm 22,5%.

 

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 4 và 4 tháng năm 2020
 
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép từ 01/01- 20/4/2020
 
 

5. Thu, chi ngân sách nhà nước

Trước tác động tiêu cực của dịch Covid-19 tới hoạt động sản xuất kinh doanh, Chính phủ đã ban hành các giải pháp hỗ trợ cho những đối tượng chịu ảnh hưởng của dịch bệnh. Do vậy, thu ngân sách Nhà nước trong 15 ngày đầu tháng 4/2020 giảm mạnh so với cùng kỳ tháng trước. Chi ngân sách Nhà nước tập trung bảo đảm các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, y tế, quản lý Nhà nước và thanh toán các khoản nợ đến hạn.

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/4/2020 ước tính đạt 427,2 nghìn tỷ đồng, bằng 28,2% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 351,6 nghìn tỷ đồng, bằng 27,8%; thu từ dầu thô 17,3 nghìn tỷ đồng, bằng 49,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 58 nghìn tỷ đồng, bằng 27,9%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 40,3 nghìn tỷ đồng, bằng 22,7% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 63,2 nghìn tỷ đồng, bằng 27,6%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 70,5 nghìn tỷ đồng, bằng 26%; thu thuế thu nhập cá nhân 41,4 nghìn tỷ đồng, bằng 32,2%; thu thuế bảo vệ môi trường 14,1 nghìn tỷ đồng, bằng 20,9%; thu tiền sử dụng đất 38,5 nghìn tỷ đồng, bằng 40,2%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/4/2020 ước tính đạt 408,5 nghìn tỷ đồng, bằng 23,4% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 291,6 nghìn tỷ đồng, bằng 27,6%; chi đầu tư phát triển 76,6 nghìn tỷ đồng, bằng 16,3%; chi trả nợ lãi 38,6 nghìn tỷ đồng, bằng 32,7%.

6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động thương mại, dịch vụ trong tháng, hoạt động mua sắm hàng hóa, chi tiêu của người tiêu dùng giảm mạnh, nhiều cơ sở lưu trú, ăn uống, lữ hành phải tạm đóng cửa trong thời gian giãn cách xã hội. Ước tính tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Tư giảm 26% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,3%). Tính chung 4 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 4,3%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Tư ước tính đạt 293,9 nghìn tỷ đồng, giảm 20,5% so với tháng trước và giảm 26% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 257,4 nghìn tỷ đồng, giảm 13,4% và giảm 15,3%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 16,8 nghìn tỷ đồng, giảm 50,4% và giảm 64,7%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 88 tỷ đồng, giảm 93,2% và giảm 97,5%; doanh thu dịch vụ khác đạt 19,6 nghìn tỷ đồng, giảm 47,2% và giảm 53,3%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 1.520 nghìn tỷ đồng, giảm 4,3% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá giảm 9,6% (cùng kỳ năm 2019 tăng 8,8%).

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 4 tháng ước tính đạt 1.224,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 80,6% tổng mức và tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lương thực, thực phẩm tăng 4,8%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 1,2%; may mặc giảm 4,4%; phương tiện đi lại giảm 6,4%; vật phẩm văn hoá, giáo dục giảm 10%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm 2020 vẫn tăng nhẹ do hình thức mua sắm trực tuyến được người tiêu dùng ưa chuộng trong thời gian gần đây. Tốc độ tăng/giảm doanh thu bán lẻ hàng hóa so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Hà Nội tăng 5,3%; Hải Phòng tăng 3,8%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 3,2%; thành phố
Hồ Chí Minh tăng 2,9%; Đà Nẵng giảm 6,8%; Thanh Hóa giảm 3,7%; Nghệ An giảm 2,9%; Cần Thơ giảm 0,8%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 4 tháng đầu năm ước tính đạt 143 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,4% tổng mức và giảm 23,6% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,1%) do thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về giãn cách xã hội nên nhiều cơ sở kinh doanh nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi, giải trí, ăn uống ngoài gia đình đã tạm ngừng hoạt động để ngăn ngừa sự lây lan của dịch bệnh. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 4 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước giảm mạnh ở hầu hết các địa phương, trong đó Khánh Hòa giảm 52,1%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 45%; Hà Nội giảm 42,9%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 42,4%; Đà Nẵng giảm 41,4%; Thanh Hóa giảm 39,7%; Quảng Bình giảm 34,9%; Cần Thơ giảm 30,7%;
Hải Phòng giảm 26,5%; Quảng Ninh giảm 25,3%.

Doanh thu du lịch lữ hành 4 tháng đầu năm ước tính đạt 7,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,5% tổng mức và giảm 45,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 12,6%) do diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 trên toàn thế giới, Việt Nam tạm dừng cấp thị thực cho người nước ngoài và nhiều địa điểm tham quan du lịch ngừng hoạt động trong giai đoạn giãn cách xã hội. Một số địa phương có doanh thu du lịch lữ hành 4 tháng giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước: Thanh Hóa giảm 64%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 62,5%; Khánh Hòa giảm 59,5%; Quảng Ninh giảm 58,5%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 58,3%; Hà Nội giảm 51,2%; Bình Định giảm 45,2%; Đà Nẵng giảm 41,4%; Hải Phòng giảm 38,6%.

Doanh thu dịch vụ khác 4 tháng đầu năm ước tính đạt 144,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,5% tổng mức và giảm 13,2% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó doanh thu của Khánh Hòa giảm 60%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 23,8%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 23%; Hải Phòng giảm 18,5%; Hà Nội giảm 16,1%; Thái Nguyên giảm 13,4%; Đà Nẵng giảm 13,3%; Cần Thơ giảm 9,4%; Quảng Ninh giảm 5,7%.

 
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
 
 
   b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Do lo ngại việc tạm dừng xuất, nhập khẩu ở các thị trường lớn đang có dịch Covid-19 diễn biến phức tạp nên các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động xuất, nhập khẩu trong 10 ngày cuối tháng Ba, trong đó Công ty Samsung gần như đã hoàn thành xuất khẩu sản phẩm điện thoại phiên bản mới. Sang tháng Tư kim ngạch xuất khẩu ước tính giảm mạnh 18,4% so với tháng trước và giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2020, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 162,83 tỷ USD, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 82,94 tỷ USD, tăng 4,7%; nhập khẩu đạt 79,89 tỷ USD, tăng 2,1%[13]. Cán cân thương mại hàng hóa 4 tháng ước tính xuất siêu 3 tỷ USD.

Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện tháng 3/2020 đạt 24.130 triệu USD, cao hơn 4.130 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 888 triệu USD; hàng dệt may cao hơn 539 triệu USD; điện thoại và linh kiện cao hơn 517 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 413 triệu USD; giày dép cao hơn 293 triệu USD; phương tiện vận tải và phụ tùng cao hơn 170 triệu USD; sắt thép cao hơn 148 triệu USD; gỗ và sản phẩm gỗ cao hơn 86 triệu USD.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 4/2020 ước tính đạt 19,7 tỷ USD, giảm 18,4% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,35 tỷ USD, giảm 16,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 13,35 tỷ USD, giảm 19,1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu tháng 4/2020 giảm 3,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 1,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) giảm 4,5%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 82,94 tỷ USD, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 26,45 tỷ USD, tăng 12,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 56,49 tỷ USD (chiếm 68,1% tổng kim ngạch xuất khẩu), tăng 1,5%.

Trong 4 tháng có 15 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu. Một số mặt hàng xuất khẩu đạt giá trị cao như: Điện thoại và linh kiện đạt 16,2 tỷ USD, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 12,4 tỷ USD, tăng 28,6%; hàng dệt may đạt 8,9 tỷ USD, giảm 5,8%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 6,9 tỷ USD, tăng 29,6%; giày dép đạt 5,5 tỷ USD, tăng 1,3%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3,4 tỷ USD, tăng 10,1%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 2,7 tỷ USD, giảm 3,9%; thủy sản đạt 2,2 tỷ USD, giảm 8,5%; sắt thép đạt 1,4 tỷ USD, giảm 4,7%; xơ, sợi dệt đạt 1,2 tỷ USD, giảm 11,5%; sản phẩm chất dẻo đạt 1,1 tỷ USD, tăng 1,3%; túi xách, ví, ba lô, ô dù đạt 1,1 tỷ USD, giảm 5,7%; sản phẩm từ sắt thép đạt 1,03 tỷ USD; tăng 1,5%. Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản giảm so với cùng kỳ năm trước: Rau quả đạt 1,3 tỷ USD, giảm 8,7%; cao su đạt 403 triệu USD, giảm 27,5% (lượng giảm 31,7%); hạt tiêu đạt 257 triệu USD, giảm 9,2% (lượng tăng 11,9%). Một số mặt hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu tăng: Cà phê đạt 1,1 tỷ USD, tăng 2,2% (lượng tăng 4,5%); hạt điều đạt 963 triệu USD, tăng 5,9% (lượng tăng 21,5%); gạo đạt 892 triệu USD, tăng 0,2% (lượng giảm 7,9%).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm với kim ngạch đạt 20,3 tỷ USD, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là Trung Quốc đạt 13,1 tỷ USD, tăng 26,7%. Thị trường EU đạt 10,7 tỷ USD, giảm 8,1%. Thị trường ASEAN đạt 8,2 tỷ USD, giảm 3,4%. Nhật Bản đạt 6,7 tỷ USD, tăng 10,1%. Hàn Quốc đạt 6,2 tỷ USD, giảm 0,2%.

Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa thực hiện tháng 3/2020 đạt 22.149 triệu USD, cao hơn 3.149 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 562 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 434 triệu USD; vải cao hơn 268 triệu USD; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép cao hơn 140 triệu USD; ô tô cao hơn 121 triệu USD; kim loại thường cao hơn 116 triệu USD; sắt thép cao hơn 107 triệu USD; than đá cao hơn 97 triệu USD.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 4/2020 ước tính đạt 20,4 tỷ USD, giảm 7,9% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 8,9 tỷ USD, giảm 3,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 11,5 tỷ USD, giảm 11,1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu tháng 4/2020 ước tính giảm 2,3%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 4,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 0,7%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 79,89 tỷ USD, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 33,58 tỷ USD, tăng 1,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 46,31 tỷ USD, tăng 2,9%.

Trong 4 tháng có 17 mặt hàng đạt kim ngạch nhập khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 76,5% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 17,8 tỷ USD (chiếm 22,2% tổng giá trị nhập khẩu), tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 11,5 tỷ USD, giảm 0,1%; điện thoại và linh kiện đạt 4,3 tỷ USD, tăng 12%; vải đạt 3,6 tỷ USD, giảm 10,9%; sắt thép đạt 2,9 tỷ USD, giảm 6,4%; chất dẻo đạt 2,8 tỷ USD, giảm 1,4%; sản phẩm chất dẻo đạt 2,3 tỷ USD, tăng 14,6%; kim loại thường đạt 2 tỷ USD, giảm 2,1%; sản phẩm hóa chất đạt 1,9 tỷ USD, tăng 20,5%; ô tô đạt 1,9 tỷ USD, giảm 22,4%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 1,8 tỷ USD, giảm 3,2%; dầu thô đạt 1,8 tỷ USD, tăng 34,5%; hóa chất đạt 1,8 tỷ USD, tăng 5,4%; sản phẩm từ sắt thép đạt 1,3 tỷ USD, tăng 6,8%; than đá đạt 1,2 tỷ USD, giảm 0,9%; xăng dầu đạt 1,1 tỷ USD, giảm 40,5%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 1,1 tỷ USD, giảm 16,1%.

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu 4 tháng đầu năm 2020, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 75,1 tỷ USD, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 94% tổng kim ngạch nhập khẩu; nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 4,8 tỷ USD, giảm 9,9% và chiếm 6%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu trong 4 tháng, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước tính đạt 22,7 tỷ USD, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc đạt 15,5 tỷ USD, tăng 2,5%; ASEAN đạt 9,9 tỷ USD, giảm 7,8%; Nhật Bản đạt 6,4 tỷ USD, tăng 10,9%; Hoa Kỳ đạt 4,7 tỷ USD, tăng 9,6%; EU đạt 4,5 tỷ USD, tăng 8%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng 3/2020 xuất siêu 2 tỷ USD[14]; quý I xuất siêu 3,7 tỷ USD; tháng Tư ước tính nhập siêu 700 triệu USD. Tính chung 4 tháng đầu năm 2020, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 3 tỷ USD[15], trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 7,1 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 10,1 tỷ USD.

 

Hàng hóa xuất khẩu
 
Hàng hóa nhập khẩu
 
 

c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2020 giảm 1,54% so với tháng trước, mức thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020[16], chủ yếu do nhiều nước trên thế giới áp dụng lệnh phong tỏa và giãn cách xã hội nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch Covid-19 làm giá xăng dầu giảm mạnh, đồng thời giá nhiều mặt hàng phi lương thực, thực phẩm giảm khi người dân thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19. Tuy nhiên, chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm trước tăng 4,9% - mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2016-2020[17].

Trong mức giảm 1,54% của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2020 so với tháng trước có 6/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm, trong đó: Nhóm giao thông giảm nhiều nhất với 13,86% do ảnh hưởng của 2 đợt điều chỉnh giảm giá xăng, dầu vào thời điểm 29/3/2020 và thời điểm 13/4/2020 làm chỉ số giá xăng, dầu giảm 28,48% (tác động làm CPI chung giảm 1,18%), bên cạnh đó, trong bối cảnh dịch Covid-19 lan rộng toàn cầu, nhiều chương trình khuyến mại để kích cầu tiêu dùng của các hãng đưa ra nhằm giảm lượng hàng tồn kho làm giá nhiều mặt hàng giao thông giảm[18], đồng thời giá vé một số phương tiện giao thông cũng giảm do nhu cầu đi lại bị hạn chế (giá vé ô tô khách giảm 0,2%; giá vé taxi giảm 0,74%). Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 2,33%, chủ yếu do nhiều hộ gia đình giảm giá thuê nhà ở để hỗ trợ người tiêu dùng trong tình hình dịch bệnh nên giá thuê nhà ở giảm 0,97%; giá nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở giảm 0,27%; giá gas giảm 19,74% (làm CPI chung giảm 0,24%) và giá dầu hỏa giảm 29,97%. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,4% do nhu cầu đi du lịch giảm mạnh[19]; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,17%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,02%; nhóm hàng hóa, dịch vụ khác giảm 0,13%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,66% (trong đó: lương thực tăng 2,09%[20]; thực phẩm tăng 0,62%[21]; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,05%); nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,13%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,06%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03% do nhu cầu về một số loại vật tư y tế, thuốc phòng và chữa bệnh tăng. Riêng nhóm giáo dục không thay đổi.

CPI bình quân 4 tháng đầu năm 2020 tăng 4,9% so với bình quân cùng kỳ năm 2019; CPI tháng 4/2020 giảm 1,21% so với tháng 12/2019 và tăng 2,93% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản tháng 4/2020 giảm 0,15% so với tháng trước và tăng 2,71% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 4 tháng đầu năm nay tăng 2,96% so với bình quân cùng kỳ năm 2019.

Giá vàng trong nước tăng theo giá vàng thế giới do giới đầu tư lo ngại các nước sẽ đối mặt với triển vọng suy thoái kinh tế dưới tác động của dịch Covid-19, dẫn đến nhu cầu mua các loại tài sản an toàn như vàng tăng cao. Bình quân giá vàng thế giới tháng Tư (tính đến ngày 24/4/2020) tăng 6,74% so với tháng 3/2020. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 4/2020 tăng 0,69% so với tháng trước; tăng 12,14% so với tháng 12/2019 và tăng 26,81% so với cùng kỳ năm trước.

Trong bối cảnh thị trường tài chính thế giới có dấu hiệu suy giảm, các nhà đầu tư có xu hướng nắm giữ tiền mặt, đồng thời các dự báo tiêu cực về hệ thống ngân hàng của một số quốc gia có thể phải tái cơ cấu vốn hoặc tái cấu trúc do ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch Covid-19 kéo dài nên đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới tăng. Trong nước, lượng dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dồi dào đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2020 tăng 0,95% so với tháng trước; tăng 1,47% so với tháng 12/2019 và tăng 1,15% so với cùng kỳ năm trước.

 

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ và lạm phát cơ bản tháng 4 năm 2020
 
 
 

d) Vận tải hành khách và hàng hóa

Hoạt động vận tải tháng 4/2020 tiếp tục chịu ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19 và thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ, lượng hành khách vận chuyển giảm 76,8% và hàng hóa vận chuyển giảm 27,2% so với cùng kỳ năm trước.

Vận tải hành khách tháng Tư ước tính đạt 99,8 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 63,7% so với tháng trước và luân chuyển 4,2 tỷ lượt khách.km, giảm 65,8%. Tính chung 4 tháng đầu năm, vận tải hành khách đạt 1.231,3 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 27,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,9%) và luân chuyển 57,4 tỷ lượt khách.km, giảm 30,6% (cùng kỳ năm trước tăng 9,6%), trong đó vận tải trong nước đạt 1.228,5 triệu lượt khách, giảm 27,4% và 47,7 tỷ lượt khách.km, giảm 27,5%; vận tải ngoài nước đạt 2,8 triệu lượt khách, giảm 52,4% và 9,7 tỷ lượt khách.km, giảm 42,8%. Xét theo ngành vận tải, tất cả các ngành đường đều bị giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19, vận tải hành khách đường bộ 4 tháng đạt 1.165,5 triệu lượt khách, giảm 27,7% so với cùng kỳ năm trước và 40,3 tỷ lượt khách.km, giảm 27,6%; đường thủy nội địa đạt 51,9 triệu lượt khách, giảm 19,1% và 1,2 tỷ lượt khách.km, giảm 21,6%; hàng không đạt 11,1 triệu lượt khách, giảm 36% và 15,2 tỷ lượt khách.km, giảm 37,8%; đường sắt đạt 1,4 triệu lượt khách, giảm 49,2% và 685,3 triệu lượt khách.km, giảm 38,2%; đường biển đạt gần 1,4 triệu lượt khách, giảm 40,2% và 110,1 triệu lượt khách.km, giảm 27,8%.

Vận tải hàng hóa tháng Tư ước tính đạt 105,7 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 19,6% so với tháng trước và luân chuyển 21,3 tỷ tấn.km, giảm 14,9%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2020, vận tải hàng hóa đạt 534,5 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 7,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 8,7%) và luân chuyển 103,8 tỷ tấn.km, giảm 7,8% (cùng kỳ năm trước tăng 6,6%), trong đó vận tải trong nước đạt 523,5 triệu tấn, giảm 7,2% và 54,1 tỷ tấn.km, giảm 11,4%; vận tải ngoài nước đạt 11 triệu tấn, giảm 10,1% và 49,6 tỷ tấn.km, giảm 3,4%. Xét theo ngành vận tải, vận tải hàng hóa đường bộ 4 tháng đạt 416,7 triệu tấn, giảm 7,2% so với cùng kỳ năm trước và 29,2 tỷ tấn.km, giảm 8,1%; đường thủy nội địa đạt 91,6 triệu tấn, giảm 7,1% và 19,8 tỷ tấn.km, giảm 6,6%; đường biển đạt 24,5 triệu tấn, giảm 8,5% và 51,9 tỷ tấn.km, giảm 7,1%; đường sắt đạt 1,6 triệu tấn, giảm 4,7% và 1,1 tỷ tấn.km, giảm 0,9%; đường hàng không đạt 108,5 nghìn tấn, giảm 15,5% và 1,7 tỷ tấn.km, giảm 31,1%.

 

 

Vận tải hành khách và hàng hóa

 

e) Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Tư chỉ đạt 26,2 nghìn lượt người, giảm 94,2% so với tháng trước và giảm 98,2% so với cùng kỳ năm trước do thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc tạm dừng cấp thị thực cho người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam trong khoảng thời gian 30 ngày bắt đầu từ 0 giờ ngày 18/3/2020. Tính chung 4 tháng đầu năm nay, khách quốc tế đến nước ta đạt 3,7 triệu lượt người, giảm 37,8% so với cùng kỳ năm trước.

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng 4/2020 ước tính đạt 26,2 nghìn lượt người, giảm 94,2% so với tháng trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không giảm 98,3%; bằng đường bộ giảm 70,1%; bằng đường biển giảm 99,5%. So với cùng kỳ năm trước, khách quốc tế đến nước ta trong tháng Tư giảm 98,2%, trong đó khách đến bằng đường hàng không giảm 99,4%; bằng đường bộ giảm 92,6% và bằng đường biển giảm 99,9%; khách đến từ châu Á giảm 97,8%; từ châu Âu giảm 99,5%; từ châu Úc và châu Mỹ cùng giảm 99,8%; từ châu Phi giảm 97,9%.

Tính chung 4 tháng đầu năm, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 3.713 nghìn lượt người, giảm 37,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 2.998,1 nghìn lượt người, chiếm 80,7% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, giảm 35,9%; bằng đường bộ đạt 570,7 nghìn lượt người, chiếm 15,4% và giảm 51,4%; bằng đường biển đạt 144,2 nghìn lượt người, chiếm 3,9% và tăng 20,7%.

Trong 4 tháng, khách đến từ châu Á đạt 2.699,2 nghìn lượt người, chiếm 72,7% tổng số khách quốc tế đến nước ta, giảm 40,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều giảm mạnh: Trung Quốc đạt 893,8 nghìn lượt người, giảm 47,7% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc 820,2 nghìn lượt người, giảm 43,3%; Nhật Bản 201,1 nghìn lượt người, giảm 33,6%; Đài Loan 192,3 nghìn lượt người, giảm 32,4%; Thái Lan 126,1 nghìn lượt người, giảm 27,9%; Ma-lai-xi-a 116,3 nghìn lượt người, giảm 43,4%. Bên cạnh đó, một số quốc gia có lượng khách đến nước ta trong 4 tháng đầu năm vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước: Khách đến từ Cam-pu-chia đạt 120,5 nghìn lượt người, tăng 157,2%; Lào 37 nghìn lượt người, tăng 7,9%.

Khách đến từ châu Âu trong 4 tháng đầu năm ước tính đạt 665,3 nghìn lượt người, giảm 25,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Nga 245,6 nghìn lượt người, giảm 10,3%; Vương quốc Anh 81,5 nghìn lượt người, giảm 34,3%; Pháp 74,6 nghìn lượt người, giảm 37,6%; Đức 61,5 nghìn lượt người, giảm 35,8%. Khách đến từ châu Mỹ ước tính đạt 234,2 nghìn lượt người, giảm 37,6% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là khách đến từ Hoa Kỳ đạt 172,7 nghìn lượt người, giảm 38,5%. Khách đến từ châu Úc đạt 102,3 nghìn lượt người, giảm 37,5%, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 92,3 nghìn lượt người, giảm 37,3%. Khách đến từ châu Phi đạt 12 nghìn lượt người, giảm 25% so với cùng kỳ năm 2019.

 

 

Khách quốc tế đến Việt Nam

7. Một số tình hình xã hội

a) Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội

Tình hình đời sống trong nông dân đã cải thiện so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 4/2020, thiếu đói phát sinh tại 4 tỉnh gồm: Yên Bái, Điện Biên, Lai Châu và Lạng Sơn với hơn 2,9 nghìn hộ thiếu đói, tương ứng với 13 nghìn nhân khẩu thiếu đói. Tính chung 4 tháng đầu năm, cả nước có 15,3 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 65% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 62,6 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 63,6%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 487,9 tấn gạo.

b) Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng (19/3-18/4/2020), cả nước có 3.833 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 560 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 51 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút; 225 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 101 trường hợp dương tính. Tính chung 4 tháng đầu năm, cả nước có 23,5 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (4 trường hợp tử vong); 4.579 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 118 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút; 1 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu; 2.210 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 177 trường hợp dương tính.

Dịch Covid-19 trên thế giới vẫn diễn biến phức tạp[22]. Tại Việt Nam, tình hình dịch đang được kiểm soát tốt, cho thấy hiệu quả của việc thực hiện giãn cách xã hội trong những tuần vừa qua. Tính đến 6h00 ngày 27/4/2020, Việt Nam có 270 trường hợp mắc (225 trường hợp đã được chữa khỏi).

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/4/2020 là 210,4 nghìn người; số người đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 97.137 người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 98.655 người.

Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng Tư xảy ra 8 vụ với 177 người bị ngộ độc (7 người tử vong). Tính chung 4 tháng đầu năm, cả nước xảy ra 23 vụ với 419 người bị ngộ độc (12 người tử vong).

c) Tai nạn giao thông

Trong tháng (từ 15/3 đến 14/4), trên địa bàn cả nước xảy ra 1.040 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 578 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 462 vụ va chạm giao thông, làm 499 người chết, 260 người bị thương và 476 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Tư giảm 26,9% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 25% và số vụ va chạm giao thông giảm 29,1%); số người chết giảm 25%; số người bị thương giảm 36% và số người bị thương nhẹ giảm 24,7%. Đáng lưu ý là trong tháng đã xảy ra một số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng: Vụ tai nạn xảy ra ngày 10/4 tại Hòa Bình giữa 2 xe máy làm 3 người chết; vụ tai nạn xảy ra ngày 13/4 giữa xe tải và xe máy tại Long An làm 2 người bị thương; vụ tai nạn xảy ra ngày 17/4 tại Hải Dương giữa xe ô tô tải và xe máy làm 2 người chết và 2 người bị thương; vụ tai nạn xảy ra ngày 18/4 tại Gia Lai giữa 2 xe máy làm 2 người chết và 1 người bị thương; vụ tai nạn xảy ra ngày 18/4 tại Hà Nam giữa xe ô tô tải và xe máy làm 3 người chết.

Tính chung 4 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 4.509 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 2.520 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 1.989 vụ va chạm giao thông, làm 2.138 người chết, 1.264 người bị thương và 2.041 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 4 tháng đầu năm giảm 17,3% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 13,7%; số vụ va chạm giao thông giảm 21,5%); số người chết giảm 16,8%; số người bị thương giảm 21,7% và số người bị thương nhẹ giảm 20,4%. Bình quân 1 ngày trong 4 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 37 vụ tai nạn giao thông, gồm 21 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 16 vụ va chạm giao thông, làm 18 người chết, 10 người bị thương và 17 người bị thương nhẹ.

d) Thiệt hại do thiên tai

Thiên tai xảy ra trong tháng Tư chủ yếu là mưa đá, mưa lớn, sạt lở và xâm nhập mặn tại một số địa phương làm 3 người chết và 3 người bị thương; hơn 5,2 nghìn ngôi nhà bị sập và hư hại; 29,4 nghìn ha lúa và 9,2 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng, tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong tháng là 1.577,4 tỷ đồng. Riêng hạn hán, xâm nhập mặn xảy ra tại 8 tỉnh: Gia Lai, Bình Phước, Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau làm thiệt hại hơn 26,9 nghìn ha lúa và hơn 7,4 nghìn ha hoa màu, tổng giá trị thiệt hại là 1.494,2 tỷ đồng (chiếm tới 94,7% tổng thiệt hại trong tháng 4). Tính chung 4 tháng đầu năm 2020, thiên tai làm 12 người chết, 21 người bị thương; 68,8 nghìn ha lúa và hơn 16,2 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 39 ngôi nhà bị sập đổ; hơn 28,3 nghìn ngôi nhà bị hư hỏng, tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính hơn 2,5 nghìn tỷ đồng.

e) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng 4/2020, cơ quan chức năng đã phát hiện 889 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 774 vụ với tổng số tiền phạt là 12,1 tỷ đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm nay đã phát hiện 3.434 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 3.020 vụ với tổng số tiền phạt là 70,6 tỷ đồng.

Trong tháng, cả nước xảy ra 253 vụ cháy, nổ, làm 10 người chết và 17 người bị thương, thiệt hại ước tính 32,4 tỷ đồng. Tính chung 4 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 1.044 vụ cháy, nổ, làm 35 người chết và 78 người bị thương, thiệt hại ước tính hơn 229,8 tỷ đồng./.

 

Nguồn: TỔNG CỤC THỐNG KÊ



[1] Chuyển 2 nghìn ha sang xây dựng cơ sở hạ tầng; 2,4 nghìn ha sang trồng cây lâu năm; 1 nghìn ha sang nuôi trồng thủy sản; 4,9 nghìn ha bỏ hoang do lao động nông thôn chuyển sang các ngành sản xuất phi nông nghiệp.

[2] Chuyển 819 ha sang đất phi nông nghiệp; 3,1 nghìn ha sang trồng cây hằng năm khác; 15 nghìn ha sang trồng cây lâu năm; 840 ha sang nuôi trồng thủy sản; 36,5 nghìn ha bỏ không gieo trồng do bị nhiễm mặn. 

[3] Bắc Kạn và Hà Nội.

[4] Giá cá tra thương phẩm hiện dao động từ 17.500-18.500 đồng/kg trong khi giá thành sản xuất từ 21.000-22.000 đồng/kg.

[5] Tốc độ tăng/giảm chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Tư so với cùng kỳ năm trước các năm giai đoạn 2016-2020: Năm 2016 tăng 7,3%; năm 2017 tăng 10,9%; năm 2018 tăng 5,3%; năm 2019 tăng 9%; năm 2020 giảm 10,5%.

[6] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[7] Vốn thực hiện từ nguồn NSNN tháng 3/2020 đạt 23,4 nghìn tỷ đồng.

[8] Tốc độ tăng vốn thực hiện từ nguồn NSNN tháng 4 so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2020: năm 2016 tăng 13,7%; năm 2017 tăng 6,1%; năm 2018 tăng 8,6%; năm 2019 tăng 4,4%; năm 2020 tăng 0,8%.

[9] Tỷ lệ vốn thực hiện từ nguồn NSNN 4 tháng so với kế hoạch năm giai đoạn 2016-2020 lần lượt là: 22,7%; 21,1%; 20,3%; 19,3% và 18,1%.

[10] Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 4 tháng giai đoạn 2016-2020 lần lượt là: 4,7 tỷ USD; 4,8 tỷ USD; 5,3 tỷ USD; 5,7 tỷ USD; 5,2 tỷ USD.

[11] Trong tháng có nhiều lượt dự án ngành chế biến, chế tạo điều chỉnh vốn đăng ký, trong đó: Dự án Tổ hợp hóa dầu miền Nam Việt Nam tại Bà Rịa - Vũng Tàu (Thái Lan đầu tư) bổ sung 1.386 triệu USD; dự án Công trình văn phòng tại 29 Liễu Giai, Hà Nội (Xin-ga-po đầu tư) 246 triệu USD; dự án Chế tạo lốp xe Radian Trung Quốc tại Tây Ninh 138 triệu USD; Nhà máy sản xuất tai nghe, dây kết nối new wing Xin-ga-po tại Bắc Giang 120 triệu USD.

[12] Ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí có 2 dự án điều chỉnh vốn làm giảm 152,8 triệu USD.

[13] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 4 tháng đầu năm 2019 đạt 157,4 tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 79,2 tỷ USD, tăng 6,5%; kim ngạch nhập khẩu đạt 78,2 tỷ USD, tăng 10,6%.

[14] Ước tính xuất siêu 1 tỷ USD.

[15] Trong đó, xuất siêu sang EU đạt 6,2 tỷ USD, giảm 16,9% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 9,6 tỷ USD, giảm 22,4%; nhập siêu từ Hàn Quốc 9,3 tỷ USD, tăng 4,4%; nhập siêu từ ASEAN 1,7 tỷ USD, giảm 24,6%.

[16] Tốc độ tăng/giảm CPI tháng Tư so với tháng trước của các năm giai đoạn 2016-2020 lần lượt là: tăng 0,33%; không thay đổi; tăng 0,08%; tăng 0,31%; giảm 1,54%.

[17] Tốc độ tăng CPI bình quân 4 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2020 lần lượt là: 1,41%; 4,8%; 2,8%; 2,71%; 4,9%.

[18] Trong đó: giá ô tô giảm 0,46%; giá xe máy giảm 0,14%; giá phụ tùng ô tô giảm 0,12%; bảo dưỡng phương tiện đi lại giảm 0,05%.

[19] Giá các tua du lịch trong nước giảm 0,9%; du lịch ngoài nước giảm 1,02%; giá khách sạn, nhà nghỉ giảm 0,18%.

[20] Chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng, dự trữ gạo của người dân và giá gạo xuất khẩu tăng, giá gạo tháng 4/2020 tăng 2,51% so với tháng trước.

[21] Trong đó: giá thịt lợn tăng 1,62%; giá thịt bò tăng 0,55%; giá thịt chế biến tăng 1,04%, giá trứng tăng 1,48%, giá các loại đậu và hạt tăng 1,1%, giá các loại rau tươi tăng 3,54%; giá thủy sản chế biến tăng 1,4%.

[22] Tính đến 6h00 ngày 27/4/2020 trên thế giới có 2.934,6 nghìn trường hợp mắc Covid-19 (203,7 nghìn trường hợp
tử vong).