VIỆN NGHIỆN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

CỔNG THÔNG TIN KINH TẾ VIỆT NAM

Tin tức

Giải mã 'Sáng kiến Vành đai và Con đường' (BRI) của Trung Quốc

27/06/2019 - 184 Lượt xem

(VNF) - BRF (BELT AND ROAD FORUM) là viết tắt của "Diễn đàn Vành đai và Con đường" diễn ra từ 26-27/4 ở Bắc Kinh, nhằm đánh giá chiến lược "Một Vành đai, Một Con đường" (chứ hán là "Nhất đới nhất lộ"/"One belt one road") (Obor). Một đại chiến lược được quảng bá sẽ thực hiện trong vòng vài ba chục năm, tàng ẩn nhiều nội hàm về chính sách mà có nhiều tên gọi, đủ thấy tính "đa chiều kích" của "sáng kiến xuyên thế kỷ" này.

Giải mã 'Sáng kiến Vành đai và Con đường' (BRI) của Trung Quốc

BRI là viết tắt bằng Anh ngữ của “Sáng kiến Vành đai và Con đường” (Belt and Road Initiative), một “đại chiến lược” do đích thân Tổng Bí thư - Chủ tịch nước Tập Cận Bình phát động cách đây 6 năm (từ 2013). Tuy nhiên, “tên khai sinh” của BRI lại là OBOR (One Belt One Road), hay còn có danh xưng khác, “Con Đường Tơ Lụa Mới trên đất liền” (NSR), là đại chiến lược kinh tế - chính trị gồm hai phần: Một Vành đai (One Belt) và Một Con đường (One Road).

Một Vành đai đó là “Vành đai Tơ lụa Kinh tế”, tức Con đường Tơ lụa Mới trên đất liền (NSR) bắt nguồn từ Tây An (Xi’an) băng qua các thành phố lớn gồm Almaty, Bishkek, Samarkand, Tehran, Istanbul, Moscow và Rotterdam trước khi kết thúc ở Venice. Kế hoạch là xây dựng hệ thống đường bộ, đường sắt và hệ thống ống dẫn dầu khí xuyên Trung Á đến châu Âu.

6 mục tiêu bao trùm và xuyên suốt

Còn Một Con đường chỉ “Con đường Tơ lụa Hàng hải Thế kỉ 21” (MSR), bắt nguồn từ Phúc Châu (Fuzhou), kết nối các thành phố ven biển bao gồm Hà Nội, Jakarta, Kuala Lumpur, Kolkata, Nairobi, trước khi kết nối với “Vành đai Tơ lụa Kinh tế” ở Venice. Để chuẩn bị cho việc hình thành “Con đường Tơ lụa Hàng hải thế kỷ 21” (MSR), kế hoạch là xây dựng các hải cảng và cơ sở hậu cần đường thủy từ Thái Bình Dương sang biển Baltic.

Ở Việt Nam, đó sẽ là việc xây dựng hệ thống đường cao tốc nối các tỉnh phía Nam của Trung Quốc với Hà Nội và các hải cảng phía Bắc, đồng thời nâng cấp hoặc xây mới các hải cảng ở vùng này. Quy mô của BRI được dự đoán liên quan trực tiếp đến 65 nước và 4,4 tỷ người, nối kết một khu vực địa lý tạo ra 55% tổng sản lượng toàn thế giới, đại diện cho 70% dân số toàn cầu và chiếm xấp xỉ 75% tổng lượng năng lượng dự trữ đã biết. Dự án dự tính cần khoảng 30 đến 35 năm để hoàn thành.

Tổng hợp từ nhiều nguồn, OBOR có 6 mục tiêu chính. Trước hết, đây là một chiến lược nhằm đối phó với các nỗ lực của Hoa Kỳ, EU và các đối tác trong việc hình thành nên các Hiệp định thương mại nhằm gạt Trung Quốc ra khỏi các mạng lưới liên kết đối tác.

Cả hai hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Thương mại Tự do xuyên Đại Tây Dương (TTIP) nếu được thông qua thì hàng hóa có giá trị thấp của các nước châu Á sẽ thay thế hàng Trung Quốc, trong khi hàng hóa công nghệ cao của Nhật và các nước châu Âu sẽ cạnh tranh hơn hẳn hàng hóa chất lượng cao của Trung Quốc. Trung Quốc do đó sẽ bị cô lập về kinh tế. Chiến lược OBOR, bằng cách thắt chặt nền kinh tế Trung Quốc với nền kinh tế các quốc gia trong mạng lưới OBOR, sẽ khiến các quốc gia khác cùng chia sẻ một vận mệnh kinh tế với mình.

Thứ hai, BRI hay OBOR của Trung Quốc là một cố gắng nhằm kéo các nước châu Á tích hợp và phụ thuộc vào Trung Quốc, nhằm tạo ra một hệ thống quyền lực mới ở Châu Á đặt trọng tâm tại Bắc Kinh như là một cách để đối đầu với “Chiến lược Xoay trục” về châu Á của Hoa Kỳ. Hiển nhiên, đây là một nỗ lực của Trung Quốc nhằm gửi ra một thông điệp rằng châu Á là của mình.

Mục tiêu thứ ba của BRI là dùng các tiếp cận kinh tế từ hỗ trợ, đầu tư trực tiếp, cho đến xuất khẩu các chính sách phát triển quốc gia đến các nước châu Á trong khu vực như là một phương thức nhằm giải tỏa các tranh chấp biên giới và hàng hải. Bằng cách đưa “củ cà rốt” về lợi ích kinh tế tới các đối tác tranh chấp, Trung Quốc muốn các nước liên quan “thần phục” các yêu sách về chủ quyền của mình.

Mục tiêu thứ tư của BRI là bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng, tận dụng các hiệp định sẵn có và gỡ bỏ các rào cản thuế quan, cho phép nền kinh tế Trung Quốc tích hợp sâu hơn vào các nền kinh tế năng động khác. Nhờ đó giúp cho nền kinh tế Trung Quốc tăng xuất khẩu, giải quyết được khả năng sản xuất vốn đã bị dư thừa.

Ở mục tiêu thứ năm, “đại chiến lược” là một phương thức nhằm cải thiện hố ngăn cách về xã hội và kinh tế giữa các tỉnh duyên hải với các tỉnh nội địa của Trung Quốc. Các kết nối hạ tầng của chiến lược giúp kết nối các tỉnh nội địa trung tâm và phía Tây, nơi vốn có mức lương thấp. Bên cạnh đó, theo mô hình “đàn sếu bay” có thể thúc đẩy các kết nối kinh tế mạnh mẽ hơn giữa duyên hải với nội địa, tạo đà cho các sự phát triển các sản phẩm có giá trị cao hơn ở các tỉnh duyên hải.

Với mục tiêu thứ sáu, BRI đóng vai trò như một cách để giải quyết các thách thức về an ninh ở biên giới phía Tây và các vấn đề về an ninh năng lượng. Việc tích hợp về kinh tế của các tỉnh phía Tây Trung Quốc với hệ thống các chuỗi giá trị của thế giới thông qua các liên kết thương mại với các đối tác láng giềng giúp tăng cường khả năng chống khủng bố, ly khai và cực đoan tôn giáo trong khu vực.

Đường xa nghĩ nỗi sau này…

Để đạt được ba mục tiêu trên, “đại chiến lược” OBOR dựa trên ba trụ cột chính. Trước tiên, OBOR thúc đẩy phát triển kinh tế thế giới thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển các kênh giao dịch thương mại mới.

Thứ hai, chiến lược nhằm tạo ra một sự phụ thuộc lẫn nhau giữa Trung Quốc, các quốc gia và vùng miền khác thông qua các mạng lưới đối tác toàn cầu, mà một trong các phương thức đó là thúc đẩy nhiều hơn các thanh toán trực tiếp bằng đồng Nhân dân tệ, tạo ra các liên kết hợp tác thông qua các tổ chức đa phương mà Trung Quốc nắm quyền chi phối như Ngân hàng Đầu tư hạ tầng Châu Á (Asian Infrastructure Investment Bank AIIB), Ngân hàng Đầu tư mới (New Development Bank), Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (Shanghai Cooperation Organisation), và ASEAN+1.

Và thứ ba, chiến lược tập trung vào châu Á như một phần của chính sách ngoại giao láng giềng mới. Bằng cách xây dựng lại mối quan hệ chặt chẽ hơn về kinh tế với các vùng miền dọc theo Con đường Tơ lụa Mới, Bắc Kinh đang cố gắng thắt chặt sự thịnh vượng của khu vực vào mối quan hệ với Trung Quốc nhằm giúp hình thành nên một đế chế kinh tế có trung tâm đặt tại Trung Quốc.

Để thực hiện các dự án này, Trung Quốc dựa phần lớn vào vai trò của các tập đoàn nhà nước. Các dự án có sự hỗ trợ nguồn lực tài chính thông qua ba tổ chức chính là quĩ Silk Road Fund với 40 tỷ đô la Mỹ, Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Châu Á (Asian Infrastructure Investment Bank — AIIB) với 100 tỷ USD, và Ngân hàng Đầu tư mới (New Development Bank) với 50 tỷ USD.

Nói một cách ngắn gọn, chiến lược OBOR vừa nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững nền kinh tế trong nước của Trung Quốc, vừa thiết lập một hệ thống kinh tế mới nơi Trung Quốc đứng giữa chi phối các nền kinh tế của các quốc gia xoay quanh, khiến họ phụ thuộc vào nền kinh tế Trung Quốc, vừa để tránh việc Trung Quốc bị cô lập trên trường thương mại thế giới, và cuối cùng, một hệ thống như vậy còn giúp Trung Quốc tranh thủ ảnh hưởng để thực hiện các chính sách khác từ chính trị đến ngoại giao như giải quyết các tranh chấp lãnh thổ hay kiến tạo các quan hệ đồng minh.

Tại cuộc họp thượng đỉnh lần thứ hai về “Một Vành đai, Một Con đường” (OBOR) nói trên có ít nhất 37 nguyên thủ nhà nước và lãnh đạo chính phủ tham dự, so với con số 29 nhà lãnh đạo từng tham gia thượng đỉnh đầu tiên, cách đây 2 năm, từ hồi năm 2017. Lần này, phần lớn các nước Tây Âu cũng chỉ cử bộ trưởng tới dự, chẳng hạn ngoại trưởng Pháp hay bộ trưởng kinh tế Anh (2017).

Trong khi đó, không có đại diện cấp cao nào của Hoa Kỳ, quốc gia chỉ trích ngày càng mạnh mẽ dự án của Bắc Kinh, tham dự hội nghị. Mỹ chỉ đưa phái đoàn của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Bắc Kinh tới hội nghị năm nay. Diễn đàn lần thứ hai này kéo dài ba ngày, đã kết thúc hôm 27/4/2019 bằng buổi họp báo của đích thân Chủ tịch Tập Cận Bình. Theo công bố từ Trung Quốc, tổng cộng 57 tỷ Euro hợp đồng được ký kết giữa nước chủ nhà với các quốc gia tham dự BRF.

Trước các quan chức và phóng viên mà danh sách đã được chọn lọc kỹ lưỡng, ông Tập Cận Bình đọc một bài diễn văn, nhắc lại những điều đã được nói đến trong phiên khai mạc… Chủ tịch Trung Quốc còn cho biết thêm là hội nghị năm nay đã thành tựu được 283 kết quả cụ thể, tuy nhiên ông đã không trưng ra bất cứ một chi tiết nào.

Ông Tập tuyên bố, BRI nhằm tăng cường kết nối, giao lưu văn hóa, thương mại từ châu Á sang châu Âu và châu Phi thông qua những dự án đầu tư khổng lồ về cơ sở hạ tầng trong lĩnh vực hàng hải, đường bộ và đường sắt. Ông cũng nhấn mạnh Bắc Kinh sẽ không phá giá đồng nhân dân tệ, vấn đề từng khiến Hoa Kỳ nhiều phen nổi giận.

Giới quan sát cho rằng việc ông Tập nhấn mạnh đến “tài chính minh bạch” cho thấy Trung Quốc thừa nhận những lo ngại về các khoản nợ khổng lồ mà các nước nhận đầu tư từ sáng kiến này có nguy cơ mắc phải. Các nước cáo buộc chiến lược này là “bẫy nợ” và là “công cụ địa - chính trị” cho tham vọng siêu cường toàn cầu của Bắc Kinh. Trung Quốc công bố kể từ năm 2013 đã đầu tư 90 tỷ USD vào các dự án. Các ngân hàng của nước này cũng đã cung cấp các khoản vay lên tới 300 tỷ USD phục vụ xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng ở các nước tham gia BRI.

 Nguồn: https://vietnamfinance.vn/giai-ma-sang-kien-vanh-dai-va-con-duong-bri-cua-trung-quoc-20180504224225267.htm