VIỆN NGHIỆN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

CỔNG THÔNG TIN KINH TẾ VIỆT NAM

Tin mới

Tháng 12/2008

06/08/2010 - 155 Lượt xem

TỔNG HỢP TIN KINH TẾ THÁNG 12/2008

1. Khó khăn trong tăng trưởng kinh tế và nhóm giải pháp nhằm phát triển kinh tế, ổn định an sinh xã hội của Chính phủ.

Theo số liệu báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư:

- Tăng trưởng GDP năm 2008 đạt 6,23%. Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,79%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,33%; khu vực dịch vụ tăng 7,2%.

- Chỉ số giá cả năm 2008 so với tháng 12/2007 là 19,89%. Chỉ số giá bình quân năm 2008 so với năm 2007 ở mức 22,97%.

- Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký tại Việt Nam đạt hơn 64 tỷ USD, tăng 3 lần so với năm 2007, Tổng số vốn giải ngân đạt 11,5 tỷ USD, tăng 43,2% so với năm 2007.

- Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2008 của Việt Nam đạt 62,906 USD, tăng gần 29,5% so với năm 2007. Kim ngạch nhập khẩu đạt 79,91 tỷ USD, tăng gần 27,5% so với năm 2007. Nhập siêu cả năm đạt mức 17,01 tỷ USD.

- Tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP đạt 39%, tăng 11,2% so với năm 2007. Tổng thu cân đối Ngân sách Nhà nước là 399 nghìn tỷ đồng và tổng chi ngân sách là 474,28 nghìn tỷ đồng.

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, đạt được kết quả tăng trưởng trên là kết quả khá tốt trong điều kiện khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, Việt Nam là một nước đang phát triển, một nền kinh tế mới nổi có độ mở rất cao. Tổng xuất khẩu của Việt Nam bằng khoảng 160% GDP, cao hơn độ mở của Trung Quốc khá nhiều. Ảnh hưởng của khủng hoàng kinh tế thế giới đối với Việt Nam khá gay gắt. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam 6 tháng cuối năm giảm liên tục. Khi kim ngạch xuất khẩu suy giảm thì tăng trưởng kinh tế chậm lại là điều không khó hiểu. Nguồn vốn ngân hàng dồi dào nhưng khó cho vay, sản xuất của khu vực doanh nghiệp có chiều hướng co lại, một số doanh nghiệp phải dừng sản xuất, người lao động mất việc làm, chi tiêu tiêu dùng giảm ... ảnh hưởng xã hội của khủng hoảng có thể còn ghê gớm và đáng lo ngại hơn nhiều.

Theo đánh giá của tổ chức Tiền tệ Quốc tế (IMF) sau một vài năm phát triển mạnh mẽ nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang đối mặt với một số thử thách. Sau khi phát triển nhanh năm 2007, đà tăng trưởng trong năm 2008 đã chậm xuống vì Chính phủ phải ổn định nền kinh tế đang quá nóng. Trong khi chính phủ đã đạt được những kết quả khá tích cực trong ổn định nền kinh tế vĩ mô, thì Việt Nam lại bị ảnh hưởng của sự suy giảm kinh tế toàn cầu, khiến sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam bị suy giảm. Sự suy giảm tăng trưởng kinh tế được thể hiện ở các mặt sau:

- Tháng 11 là tháng thứ 5 liên tiếp (kể từ tháng 7) tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp bị giảm sút; ngành xây dựng liên tục tăng trưởng âm trong nhiều tháng qua và đến nay vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi. Tình hình trì trệ trong 2 tháng 10 và 11 cho thấy giá trị gia tăng trong xây dựng hầu như không tăng, (các năm trước thường tăng trên 10%, trong khi đó giá trị tăng ngành xây dựng 9 tháng đầu năm 2008 giảm 0,33% so với cùng kỳ năm trước). Bên cạnh đó đầu tư, thu ngân sách, thị trường chứng khoán, du lịch, vận tải, dịch vụ và sức mua đều giảm sút so với những tháng gần đây.

- Thiên tai, lũ lụt trong nước làm mất trắng hơn 200.000 ha vụ đông, gây thiệt hại lớn ở cả miền Bắc và miền Trung. So với thời điểm giá lên cao nhất, thì hiện nay giá gạo chỉ còn bằng khoảng 1/3; giá các loại nông sản khác giảm từ 30% – 50% (thậm chí giá cao su còn xuống dưới mức giá thành sản xuất). Một số sản phẩm khác như xi măng, sắt thép, phân bón ... đang tồn kho với số lượng lớn. Giá dầu thô giảm mạnh từ 147 USD/thùng xuống dưới 50USD/thùng giảm gần 70%... Theo các chuyên gia kinh tế, những khó khăn trên bắt nguồn từ các nguyên nhân cộng hưởng bởi sự suy thoái của nền kinh tế thế giới cùng với những khó khăn trong nước.

Đứng trước những khó khăn của nền kinh tế, Chính phủ đã đề ra 3 nhiệm vụ cấp bách cần tập trung thực hiện: Một là, ngăn chặn suy giảm kinh tế; Hai là, duy trì tăng trưởng; Ba là, đảm bảo anh sinh xã hội. Để thực hiện được 3 nhiệm vụ này Chính phủ đã đề ra 5 giải pháp quan trọng cần được thực hiện ngay.

Thứ nhất, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và đầy mạnh xuất khẩu. Chính phủ sẽ có chính sách tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, cho những người trực tiếp sản xuất, nhất là đối tượng nông dân, người nghèo về chính sách thuế, vay vốn ngân hàng, hoãn nợ, giãn nợ ngân hàng, hỗ trợ về cây, con giống... miễn là không vi phạm quy định của WTO.

Thứ hai, đẩy mạnh, kích cầu đầu tư và tiêu dùng. Chính phủ khuyến khích các thành phần kinh tế, doanh nghiệp tham gia, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đầu tư vào các lĩnh vực như xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, điện, xi măng... Chính phủ cũng sẽ phát hành thêm trái phiếu Chính phủ; linh động cơ chế thầu, chỉ định thầu đối với các công trình ở vùng sâu, vùng xa; tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp xây dựng nhà ở cho người nghèo, cho công nhân để giải quyết vấn đề tồn đọng của hàng hóa, vật liệu xây dựng.

Thứ ba, thực hiện chính sách tài chính tiền tệ linh hoạt hiệu quả nhằm thúc đẩy sản xuất – kinh doanh, xuất khẩu, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, đảm bảo an sinh xã hội. Chính phủ sẽ giữ lãi suất, thuế ở mức phù hợp.

Thứ tư, tiếp tục thực hiện chính sách an sinh xã hội, trong đó có đề án giảm nghèo ở 61 huyện nghèo, bảo hiểm thất nghiệp. Thủ tướng cũng chỉ đạo, không để nhân dân thiếu đói và chỉ đạo Bộ Tài chính mua trên 150.000 tấn gạo, nhu yếu phẩm dự trữ.

Thứ năm, quyết liệt, linh hoạt, kịp thời và hiệu quả trong tổ chức chỉ đạo, điều hành cho phù hợp với tình hình mới. Trong đó, tập trung vào việc chủ động về công tác dự báo, phân tích; đặt nhiệm vụ dự báo sát với tình hình thế giới là việc làm thường xuyên, liên tục của các ngành, các cấp, các tổ chức nghiên cứu khoa học...

Theo các chuyên gia kinh tế, những ý tưởng và định hướng trên là rất xác đáng nhưng cần phải được cụ thể hóa bằng những biện pháp trên thực tiễn, được cập nhật và thay đổi một cách linh hoạt với sự thay đổi rất mau lẹ và rất phức tạp của diễn biến trên thế giới, trong khu vực và trong nước. Để cụ thể hóa 5 nhóm giải pháp của mình ngày 11/12/2008 Chính phủ đã ra nghị quyết số 30/2008/NQ-CP về những giải pháp mang tính cấp bách nhằm ngăn chằn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Qua đó Chính phủ chỉ đạo triển khai ngay nhiều giải pháp tài chính, tiền tệ, đầu tư.. nhằm ngăn chặn tình trạng suy giảm kinh tế. Cụ thể:

- Các giải pháp đối với lĩnh vực Ngân hàng:

Thứ nhất, NHNN phải có các biện pháp cụ thể để tạo điều kiện tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu và doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, như tiếp tục xem xét giảm dự trữ bắt buộc, điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Thứ hai, nghiên cứu, hướng dẫn các tổ chức tín dụng thực hiện cho vay theo lãi suất thỏa thuận quy định tại Nghị quyết số 23/2008/QH12 của Quốc hội. Thứ ba, các NHTM thực hiện việc cơ cấu lại thời hạn nợ và áp dụng các giải pháp xử lý nợ vay vốn ngân hàng phù hợp với quy định của pháp luật đối với các hộ nông dân bị thiệt hại do thiên tai và các doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm. Thứ tư, điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, hiệu quả; điều chỉnh linh hoạt tỷ giá ngoại tệ theo tín hiệu thị trường, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đầu điều hành cán cân thanh toán quốc tế theo hướng không để thâm hụt. Thứ năm, NHNN chỉ đạo các NHTM xem xét điều chỉnh áp dụng lãi suất cho vay của các hợp đồng tín dụng xuống phù hợp theo mức lãi suất hiện hành; không phạt do quá hạn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ khó khăn.

Ngoài ra, Chính phủ cũng giao Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện nhiệm vụ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm hỗ trợ tốt hơn cho các doanh nghiệp này tiếp cận nguồn vốn vay để phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm.

- Về các biện pháp nhằm giảm, giãn thuế

Bộ Tài chính tập trung triển khai ngay nhóm 9 giải pháp phục vụ mục tiêu Nghị quyết đặt ra.

Thứ nhất, giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của quý 4/2008 và số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2009 đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Thứ hai, giãn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 9 tháng đối với số thuế phải nộp năm 2009 của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (70% số thuế còn lại sau khi giảm) và của các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, gia công, chế biến nông, lâm, thủy sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử.

Thứ ba, tạm hoàn 90% số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa thực xuất khẩu trong trường hợp doanh nghiệp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng và hoàn tiếp 10% khi có chứng từ thanh toán.

Thứ tư, điều chỉnh thuế xuất khẩu đối với một số loại tài nguyên, khoáng sản và trình Chính phủ sửa đổi thuế suất thuế tài nguyên theo hướng hạn chế xuất khẩu, bảo đảm nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước.

Thứ năm, điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu đối với một số nhóm hàng là nguyên liệu đầu vào của sản xuất, trong nước chưa sản xuất được hoặc có sản xuất nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giảm chi phí, nâng cao sức cạnh tranh. Điều chỉnh tăng thuế trong khuôn khổ cam kết WTO, tạo điều kiện cho phát triển sản xuất trong nước, kiềm chế nhập siêu.

Thứ sáu, giãn thời gian ân hạn nộp thuế đối với một số ngành hàng phù hợp với chu kỳ sản xuất và tiêu thụ (đóng tàu, sản xuất cơ khí…). Thực hiện tốt chính sách về ân hạn thời hạn nộp thuế nhập khẩu (275 ngày) đối với vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu.

Thứ bảy, cải cách thủ tục xuất nhập khẩu, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, đơn giản thủ tục hoàn thuế, quyết toán thuế đối với nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu.

Thứ tám, quy định rõ và phù hợp tỷ lệ phế liệu, phế phẩm thu được trong quá trình nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu không phải chịu thuế nhập khẩu.

Thứ chín, trong tháng 12/2008, Bộ trưởng Bộ Tài chính thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc triển khai thực hiện Luật thuế Thu nhập cá nhân theo hướng hỗ trợ khó khăn cho một số đối tượng nộp thuế.

- Các giải pháp kích cầu đầu tư:

Kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng là một trọng tâm của Nghị quyết số 30, trong đó Chính phủ xác định 8 giải pháp mà các bộ ngành liên quan phải triển khai. Cụ thể:

Thứ nhất, tiếp tục rà soát lại toàn bộ các văn bản pháp luật hiện hành về đầu tư, xây dựng để sửa đổi ngay những bất cập làm ảnh hưởng đến tiến độ các dự án đầu tư; khẩn trương xây dựng luật sửa đổi, bổ sung các luật về đầu tư, xây dựng để trình Quốc hội tại kỳ họp sắp tới.

Thứ hai, đối với các công trình, dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cho phép tiếp tục giải ngân số vốn còn lại của năm 2008 đến hết tháng 6/2009. Đối với các dự án, công trình quan trọng, cấp bách nhưng chưa bố trí được nguồn vốn, trong đó có dự án tái định cư các khu kinh tế, các bộ ngành và địa phương chỉ đạo các chủ đầu tư khẩn trương hoàn thành các thủ tục đầu tư và chủ động làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để xử lý nguồn vốn, kể cả việc tạm ứng ngân sách nhà nước để thực hiện.

Thứ ba, tạm hoãn thu hồi các khoản vốn ngân sách nhà nước đã ứng trước kế hoạch năm 2009, trừ các khoản đã tạm ứng năm 2009 để hoàn thành trong năm 2008. Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ ngay trong tháng 12 danh mục các dự án và mức vốn được hoãn thu hồi.

Thứ tư, đối với các dự án, công trình sử dụng nguồn trái phiếu Chính phủ, cho phép điều chỉnh tổng mức đầu tư đối với các dự án đã có trong danh mục được Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ giao; trên cơ sở đó thực hiện việc điều hòa vốn giữa các dự án, công trình và được thanh toán theo đúng tiến độ. Đồng thời, cho phép tiếp tục giải ngân nguồn vốn trái phiếu Chính phủ còn lại của năm 2008 trong năm 2009. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan hoàn thành phương án phân bổ vốn trái phiếu Chính phủ năm 2009 trước ngày 31/12/2008; bổ sung các dự án cấp bách khác trong các lĩnh vực giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục để triển khai thực hiện. Tạm ứng từ nguồn trái phiếu Chính phủ khoảng 1.500 tỷ đồng để đầu tư, xây dựng, nâng cấp hệ thống thủy lợi, nâng cao năng lực phòng chống lụt bão vùng đồng bằng sông Hồng…

Thứ năm, Bộ Kế hoạch Đầu tư chủ trì ban hành các biện pháp cụ thể nhằm tiếp tục thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân cách nguồn vốn FDI và ODA, nhất là các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao, có giá trị xuất khẩu lớn, những dự án giải quyết việc làm; phấn đấu năm 2009 thực hiện giải ngân các nguồn vốn trên không thấp hơn mức thực hiện trong năm 2008.

Thứ sáu, Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong tháng 12/2008 cho phép cấp quyết định đầu tư được chỉ định thầu các dự án có mức vốn tối đa không quá 5 tỷ đồng/dự án tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng thời chịu trách nhiệm về các quyết định của mình.

Thứ bảy, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư các dự án, công trình có quy mô lớn được tạo điều kiện tối đa về đất đai, tiếp cận nguồn vốn, giải phóng mặt bằng, lãi suất… Các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước chủ động tham gia các dự án, công trình đầu tư hạ tầng quan trọng như cảng biển, điện, đường cao tốc, thủy lợi, trường học, cơ sở y tế… để góp phần đẩy nhanh tiến độ và kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội của đất nước.

Thứ tám, trong tháng 12/2008, Bộ Xây dựng trình Chính phủ Đề án xây dựng quỹ nhà ở xã hội giai đoạn 2009 – 2015; Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ ban hành cơ chế phù hợp để đảm bảo khuyến khích đầu tư xây dựng nhà ở công nhân tại các khu công nghiệp.

- Các giải pháp kích cầu tiêu dùng:

Thứ nhất, tiếp tục điều hành giá theo cơ chế thị trường đối với các mặt hàng điện, than, nước sạch, cước vận chuyển xe buýt… Trong tháng 1/2009, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Công thương báo cáo Thủ tướng Chính phủ về lộ trình thực hiện cụ thể.

Thứ hai, Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên quan trình Thủ tướng đề án phát triển hệ thống phân phối các mặt hàng thiết yếu, trong đó tập trung các mặt hàng lương thực, xăng dầu, phân bón, sắt thép, xi măng và thuốc chữa bệnh; chống gian lận, đầu cơ, gây mất ổn định thị trường.

Thứ ba, các bộ ngành liên quan tăng cường các biện pháp quản lý thị trường, giá cả, chất lượng hàng hóa…; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là kinh doanh trái phép, trốn thuế, liên kết độc quyền…

Thứ tư, khuyến khích các doanh nghiệp tổ chức các đợt hạ giá bán hàng để kích thích tiêu dùng, trước mắt là trong dịp Tết nguyên đán 2009.

2. Các vấn đề xung quanh gói giải pháp kích cầu

Khủng hoảng kinh tế thế giới đã có những tác động to lớn tới nền kinh tế Việt Nam. Rõ ràng là sản xuất của nhiều doanh nghiệp bị đình đốn, thu hẹp, đầu tư giảm, xuất khẩu mấy tháng nay đã giảm liên tiếp, việc làm bớt đi, sức mua kém trước. Trong bối cảnh nền kinh tế suy giảm, việc Chính phủ đặt vấn đề chuẩn bị những gói giải pháp kích cầu là cần thiết.

Trong cuộc họp cuối năm của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc cho biết, Chính phủ có rất nhiều giải pháp nhằm kích cầu nền kinh tế và trong gói 1 tỷ USD được Chính phủ dùng làm kích cầu sẽ tập trung vào hỗ trợ bù phần lãi suất cho các ngân hàng cho vay tín dụng, hỗ trợ cho vay các DNNVV và một số sẽ dành cho nhà ở chính sách xã hội. Bên cạnh đó theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh, thực hiện gói giải pháp kích cầu đồng bộ thì không chỉ có 1 tỷ USD tiền thật được dành cho kích cầu mà các chính sách cũng là tiền. Ngay về chính sách giãn thuế, giảm thuế thì so với những năm trước đó Chính phủ đã không thu về khoảng 15 nghìn tỷ đồng, cùng với các khoản chi không hết và thực hiện được của những năm khác còn lại cùng với việc sẽ tổ chức huy động mới thì gói kích cầu này cộng lại sẽ phải trên 100 nghìn tỷ đồng.

Theo các chuyên gia hiện nay, mục tiêu kích cầu là chống suy thoái, duy trì tăng trưởng và tạo việc làm. Mặt khác, cần lưu ý đến kinh nghiệm, cả của thế giới và của chính Việt Nam kích cầu không dễ thành công. Thậm chí, trong nhiều trường hợp càng bơm nhiều tiền kích cầu càng bị thiệt hại. Mấu chốt vấn đề là phải tính toán thật kỹ kích vào đâu, cho ai, theo cơ chế nào? Theo các chuyên gia, các dự án được ưu tiên hưởng phần kích cầu của Chính phủ phải bảo đảm ba điều kiện.

Một là, giúp tháo gỡ nhanh các nút thắt tăng trưởng gây ách tắc lâu nay – ví dụ như cảng biển, cầu đường, năng lượng..., giúp cho hoạt động của các doanh nghiệp thông thoáng, tăng tốc vận hành, tiết kiệm chi phí. Với những dự án “trọng điểm” bị “ách tắc”, cần kích cầu để hoàn thành sớm. Kích cầu quan trọng là đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng để tạo ra việc làm (cầu về sắt thép, ximăng, dịch vụ thiết kế, giám sát, thi công… cuối cùng cũng sẽ dẫn đến cầu về việc làm), khuyến khích người dân tiêu dùng để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh. Người dân sẽ tiếp tục mua sắm nếu họ yên tâm về tương lai và nếu họ có thêm nguồn tài chính.

Hai là, kích cầu phải có sức lan toả mạnh. Định hướng ưu tiên là những dự án thu hút nhiều đầu vào, tạo nhiều việc làm. Thông thường, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đáp ứng tốt yêu cầu này. Việc kích vào nhóm doanh nghiệp này không phải là “làm từ thiện” cho những doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn hơn. Điều quan trọng là nó nhằm đúng mục tiêu đại cục của công cuộc kích cầu.

Một vấn đề cần lưu ý là việc kích cầu phải được tiến hành một cách khẩn trương và thận trọng. Các dự án được kích cầu là tất cả các dự án có “đầu ra” chứ không phải những dự án chứng minh được có đủ điều kiện “đầu vào”. Đầu ra càng hiện thực bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Mặt hàng nào cung - cầu vênh thì đưa vốn vào. Bên cạnh đó, các dự án thuộc lĩnh vực cũng tạo sức mua nhưng sản phẩm rất cơ bản và lâu dài, đó là những công trình, dự án phát huy tác dụng, hiệu quả trong tương lai xa hơn, tạo ra cơ cấu kinh tế tốt hơn, làm nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững.

Ba là, gỡ khó cho xuất khẩu. Ở nước ta, hoạt động xuất khẩu gắn nhiều với nông dân, với các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động (dệt may, da giày, thủ công mỹ nghệ). Kích vào đây một mặt để giữ một động lực tăng trưởng mạnh của nền kinh tế, giảm nguy cơ thâm hụt thương mại đang có khả năng tăng lên; mặt khác, giúp đông đảo người lao động thuộc nhóm thu nhập thấp, dễ bị tổn thương – và thực tế họ đang bị tổn thương nặng nề sau cơn lạm phát kéo dài và tác động suy thoái của kinh tế thế giới – duy trì việc làm, thu nhập và đời sống, đồng thời, giữ vững ổn định chính trị - xã hội.

Ba căn cứ trên cho thấy điều quan trọng ở đây là không định hướng kích cầu theo kiểu phân biệt đối xử - chỉ ưu tiên cho doanh nghiệp nhà nước hay cho những doanh nghiệp “chạy” giỏi. Nó đòi hỏi phải tính toán cẩn thận, trên lợi ích đại cục để phân bổ vốn kích cầu đúng những địa chỉ cần ưu tiên. Phải tuyệt đối tránh kích cầu thông qua cơ chế xin – cho, tránh mang tính vừa chia bình quân hiệu quả không lớn, để lại hậu quả cơ chế nặng nề.

Một điểm khác cần hết sức lưu ý là xuất khẩu. Kinh tế thế giới suy thoái bắt đầu từ Mỹ, lan sang Tây Âu và Nhật Bản. Đây là những thị trường xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam. Trong khi đó, trong nhập khẩu, chúng ta lại chủ yếu nhập siêu từ Trung Quốc. Khi tất cả các thị trường xuất khẩu cạnh tranh chính của ta và Trung Quốc đều giảm cầu thì xu hướng hàng Trung Quốc tràn vào thị trường Việt Nam sẽ gia tăng mạnh. Điều đó đang diễn ra. Đây là áp lực ghê gớm với sản xuất trong nước. Hàng Việt Nam nói chung có sức cạnh tranh kém hàng Trung Quốc. Xuất hiện một khả năng: nếu không có định hướng và giải pháp tốt thì đối tượng được ưu đãi “kích cầu” chủ yếu sẽ chính là hàng Trung Quốc. Điều này đã từng xẩy ra cách đây 10 năm: trong những năm 1998-1999. Xử lý vấn đề này không dễ dàng. Về cơ bản, đây là bài toán thị trường, phải được giải chủ yếu theo nguyên lý thị trường. Một khi sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam còn yếu, ít có khả năng cải thiện nhanh thì sứ mệnh “giảm nhập siêu” một phần đáng kể được trao cho các công cụ hành chính - kỹ thuật, ví dụ hàng rào thuế quan, hàng rào kỹ thuật hay các đội chống buôn lậu.

Để kích cầu chúng ta cần có nguồn vốn. Tất cả các nguồn vốn từ ngân sách, trái phiếu, tín dụng, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều cần phải khai thác. Đương nhiên, bên cạnh nguồn vốn trong nước, chúng ta cũng cần tính đến việc vay thêm vốn từ bên ngoài. Theo các chuyên gia, gói kích cầu tổng thể của Chính phủ gồm nhiều nguồn giải ngân. Nguồn thứ nhất, phát hành trái phiếu Chính phủ để tiếp tục vay tiền đầu tư vào những công trình mục tiêu như trường học, bệnh viện, cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi. Tiếp nữa là đầu tư cho các công trình nhà ở xã hội. Nguồn thứ hai, dùng để kích cầu là sẽ miễn giảm, hoãn, chậm việc thu thuế để doanh nghiệp có nguồn đầu tư. Nguồn thứ ba, Chính phủ sẽ sử dụng Quỹ dự trữ Nhà nước của Chính phủ để đầu tư cho một số mục tiêu, chủ yếu là để hỗ trợ sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm để thúc đẩy tiêu dùng.

Bên cạnh đó, về chủ trương giảm, giãn thuế cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong quý 4/2008 và năm 2009, cũng cần có những tính toán cụ thể. Năm 2009, nguồn thu ngân sách được dự báo là sẽ ít thuận lợi hơn nhiều so với năm 2008. Vì thế, càng phải cân nhắc khi giảm, giãn thuế - giảm loại nào, bao nhiêu, cho ai, bao lâu? Giảm, giãn thuế không đúng đối tượng cần “kích” thì có khi ngân sách nhà nước thất thu mà mục tiêu kích cầu lại không đạt được. Hoặc giảm không đủ “độ” thì sức kích sẽ yếu. Nếu thuế giảm không đủ “độ” thì hành vi giảm thuế chỉ có ý nghĩa mang “quà” Chính phủ “tặng” doanh nghiệp mà không thể chuyển thành quá trình giảm giá thực tế trên thị trường để đông đảo người dân cũng được hưởng lợi khi mua hàng. Làm sao việc giảm thuế phải nhằm vào đúng chỗ và đủ “độ” để tạo ra sự lan tỏa công bằng trong phân phối lợi ích. Khi đó, hiệu quả kích cầu sẽ tăng. Còn nếu không, việc giảm, giãn thuế dễ trở thành chủ trương chủ yếu phục vụ cho lợi ích nhóm.

Song song với việc tiếp vốn đó là giải pháp mang tính chất hành chính. Giải pháp này mang lại hiệu quả quá lớn mà không tốn tiền. Chúng ta đã có kinh nghiệm để rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục hành chính ở một số khâu có thể, cho phép làm song song nhiều thủ tục trong một dự án. Để làm việc này phải tổ chức những nhóm công tác, có đủ thẩm quyền quyết định tại chỗ đối với những vướng mắc do các thủ tục hành chính đang quá rườm rà, hoặc vừa rườm rà nhưng thiếu cụ thể gây ra

3. Vấn đề lao động và việc làm

Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), nếu GDP tăng 1% thì sẽ có 0,33-0,34% lao động có việc làm. Thực tế GDP của Việt Nam giảm từ 8,5% năm 2007 xuống còn khoảng 6,5% của năm 2009 thì sẽ có khoảng 0,65% lao động bị mất việc làm (cả nước có khoảng 45 triệu lao động). Như vậy, theo ước tính của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (LĐTB - XH), với việc sụt giảm GDP trong năm 2009, khoảng 0,65% lao động (300.000 người) có thể thất nghiệp, giảm việc.

Thực tế, lao động ở khu vực doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đang phải đối mặt với nguy cơ mất việc làm, nhất là những lao động gần hết hạn hợp đồng, lao động làm việc hiệu quả kém... Nguyên nhân là đơn hàng của doanh nghiệp bị cắt giảm, doanh nghiệp không mở rộng sản xuất, không tăng ca, khiến người lao động bị mất việc làm, sụt giảm thu nhập.

Theo Ban quản lý Các khu công nghiệp - khu chế xuất thành phố Hà Nội, trong 3 - 4 tháng gần đây, đặc biệt là dịp cuối năm, đã có nhiều doanh nghiệp thông báo việc cắt giảm lao động do tình hình sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Ngoài việc cắt giảm lao động, hiện đang có nhiều doanh nghiệp tại các Khu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội cho công nhân tạm ngưng việc hoặc nghỉ việc ăn lương từ 50% - 70%. Số lượng lao động vào làm việc ở các Khu công nghiệp cũng ít đi so với năm 2007. Tại Vĩnh Phúc, nơi tập trung nhiều doanh nghiệp FDI lớn của phía Bắc, theo ông Nguyễn Văn Thắng, Phó giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh, việc cắt giảm lao động đang diễn ra rất rõ rệt. Tình hình cũng diễn ra tương tự tại các tỉnh phía Nam, nhất là ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương. Bà Lê Thị Mỹ Phượng, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai cho biết, đến thời điểm này, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã cắt giảm khoảng trên 3.000 lao động.

Không chỉ người lao động trong nước, nhiều lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài cũng đang lâm vào cảnh điêu đứng khi “đường về nhà quá xa”. Diễn ra trầm trọng nhất là tại thị trường Đài Loan. Ít nhất khoảng 200 lao động phải về nước trong dịp này. Ông Nguyễn Bá Hải, Trưởng ban Quản lý lao động Việt Nam tại Đài Loan lý giải, nguyên nhân là do ngành công nghiệp điện tử của Đài Loan (chủ yếu xuất khẩu sang Nhật Bản, Mỹ) bị tác động rất nặng nề do suy thoái kinh tế. Cùng với Đài Loan, hàng trăm lao động ở thị trường Cộng hòa Séc cũng đang trong tình cảnh phải đối mặt với tình trạng mất việc ở nước bạn.

Trong tình hình hiện nay, rõ ràng người lao động đang cần sự hỗ trợ từ nhiều phía để hạn chế tổn thương do suy giảm kinh tế đem lại. Theo nhận định của các chuyên gia, năm 2009, tạo việc làm trong nước và ngoài nước cho Lao động Việt Nam vẫn là thách thức khi lao động còn đối mặt với nhiều hạn chế, nhất là chất lượng lao động chưa cao. Lao động Việt Nam chủ yếu làm việc trong nông nghiệp (trên 50%), lao động ở khu vực nông thôn chiếm chủ yếu (khoảng 75%) gây sức ép lớn về giải quyết việc làm ở khu vực này- trong khi VN chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế và tăng cường hội nhập.

Về vấn đề này, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh: Việt Nam cần tranh thủ lợi thế về LĐ trẻ để giải quyết việc làm cho NLĐ và nâng cao sức cạnh tranh trong phát triển KT-XH đất nước. Muốn vậy, cần làm tốt công tác nghiên cứu cung - cầu thị trường lao động, đưa ra đề án hoạch định giải quyết việc làm dài hạn. Tập trung đào tạo nghề cho người lao động là vấn đề quyết tử, trọng tâm của giải quyết việc làm trong nước và xuất khẩu, trong đó đào tạo phải thích ứng với cầu lao động, đúng ngành nghề thị trường có nhu cầu. Riêng với đào tạo lao động đi xuất khẩu phải chú trọng 4 vấn đề: Ngoại ngữ; văn hoá truyền thống, phong tục tập quán của đất nước người lao động đến làm việc; pháp luật lao động của nước sở tại và đào tạo nghề phù hợp.

Thứ trưởng Bộ LĐTB – XH Nguyễn Thanh Hòa cho biết, Chính phủ đang nỗ lực triển khai các giải pháp, trong đó nhắm đến mục tiêu quan trọng là tạo việc làm cho người lao động. Về phía Bộ LĐTB – XH, bên cạnh nhiều giải pháp chủ động đang bàn để tạo việc làm trong nước và ngoài nước, Bộ đề nghị Chính phủ trong giải pháp kích cầu, ở thời điểm này cần quan tâm những ngành, những lĩnh vực, những doanh nghiệp sản xuất sử dụng nhiều lao động để giữ và tạo nhiều việc làm mới. Điều quan trọng nhất hiện nay là các địa phương, các ngành phải nắm chắc thông tin về doanh nghiệp, khả năng mất việc thế nào và nhu cầu việc làm mới, từ đó có giải pháp cụ thể. Đối với lao động ở nước ngoài, các ban quản lý sẽ triển khai sớm việc nắm cho bằng được tình hình lao động tại các nước, xem khả năng lao động phải về nước trước hạn như thế nào.

Theo kế hoạch năm 2009 Chính phủ chỉ đạo Bộ LĐTB – XH phối hợp với Bộ KHĐT, một số Bộ, ngành liên quan, các địa phương đặt mục tiêu giải quyết việc làm cho 1,7 triệu người, đưa 90 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Từ nay đến năm 2010, mục tiêu được Bộ LĐTB – XH đưa ra là: giải quyết việc làm cho 3 – 3,2 triệu lao động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị ở dưới mức 5%, giảm tỷ lệ lao động làm việc ở nông thôn xuống dưới 50% vào năm 2010, bình quân mỗi năm đưa được 100.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài, trong đó 60% lao động qua đào tạo nghề, 5 – 10% là lao động ở các huyện có tỷ lệ đói nghèo cao. Một trong những giải pháp để đạt được mục tiêu nêu trên là đề án hỗ trợ đẩy mạnh xuất khẩu lao động tại các huyện nghèo giai đoạn 2009 – 2015. Theo đề án, sẽ có nhiều chính sách để hỗ trợ người lao động ở các huyện nghèo tham gia XKLD...

Để thực hiện được mục tiêu trên và kích cầu các dự án đào tạo nhiều việc làm, Bộ LĐTB – XH có kiến nghị và đề xuất 4 ý kiến.

Thứ nhất, Kiến nghị quốc hội bổ xung vốn chương trình tiêu biểu quốc gia về việc làm hàng năm 500 – 600 tỷ đồng để đảm bảo nguồn vốn cho các chương trình, dự án đào tạo.

Thứ hai, đề nghị Chính phủ điểu chỉnh tăng nguồn vốn cho dự án hỗ trợ phát triển thị trường lao động để đầu tư nâng cao năng lực hệ thống trung tâm gới thiệu việc làm, nhằm kết nối có hiệu quả cung cầu lao động.

Thứ ba, đề nghị Chính phủ chỉ đạo các địa phương đưa chỉ tiêu về việc làm vào trong các chương trình chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ tư, đối với các khu vực nông thôn, tập trung các giải pháp về dạy nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các làng nghề, trang trại, doanh nghiệp chế biến để tạo và tự tạo việc làm.

Bên cạnh đó, Bảo hiểm thất nghiệp sẽ được triển khai từ 01/01/2009. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên, năm 2009 chủ yếu là tổ chức thu bảo hiểm thất nghiệp, chứ chưa có người nào được hưởng chính sách này. Sớm nhất phải đầu năm 2010, tức là đủ 12 tháng đóng, lao động thất nghiệp mới được hưởng. Đây được coi là một biện pháp quan trọng trong việc đảm bảo công ăn việc làm và ổn định đời sống cho người lao động.

4. Sự cạnh tranh mạnh mẽ trong lĩnh vực phân phối

Chưa bao giờ, thị trường bán lẻ tại Việt Nam lại nở rộ như hiện nay. Từ ngày 1.1.2009, thị trường bán lẻ VN sẽ hoàn toàn mở cửa theo lộ trình WTO. Theo nhận định, hoạt động dịch vụ phân phối, bán lẻ có tầm quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, bởi lĩnh vực này đã đóng góp khoảng trên 15% vào GDP hàng năm. Với nhu cầu bán lẻ phục vụ gần 90 triệu dân cùng với hàng chục triệu du khách nước ngoài mỗi năm, thị trường bán lẻ Việt Nam đang là thị trường khá lớn trong tương lai gần và hiện đang là thị trường hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Quy mô thị trường bán lẻ Việt Nam năm 2007 khoảng 20 tỉ USD và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 8%/năm. Kênh bán lẻ hiện đại có tỉ trọng 14%, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm rất cao - khoảng 30%. Riêng tại TPHCM và Hà Nội, kênh bán lẻ hiện đại có tỉ trọng khoảng 28% (năm 2008) và dự kiến lên đến 37% vào năm 2010. Mặt khác, sức hấp dẫn của thị trường bán lẻ Việt Nam còn do áp lực cạnh tranh giữa các hệ thống bán lẻ chưa nhiều và Việt Nam có đến 65% dân số là người tiêu dùng trẻ, chi tiêu mạnh tay. Tầng lớp trung lưu với thu nhập 250USD/tháng trở lên đang tăng nhanh. Riêng tầng lớp trung lưu thu nhập trên 500USD/tháng chiếm trên 1/3 số hộ gia đình ở thành thị. Chính vì thế, sức hút của thị trường bán lẻ Việt Nam tăng nhanh khi năm 2007, Việt Nam xếp hạng 2 trên thế giới sau Ấn Độ, nhưng tháng 6.2008 - theo xếp hạng của Cty tư vấn Mỹ A.T.Keaney về chỉ số phát triển kinh doanh bán lẻ toàn cầu – Việt Nam đã đoạt ngôi số 1 trên thế giới.

Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Tú, gần đây có nhiều thông tin trái chiều về lĩnh vực phân phối nói chung, bán lẻ nói riêng của Việt Nam sau ngày 1/1/2009, khiến cho cộng đồng doanh nghiệp, người tiêu dùng rất lo lắng. Nhiều người cho rằng, sau ngày 1/1/2009, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ ồ ạt vào thị trường Việt Nam, đẩy các doanh nghiệp, hộ kinh doanh Việt Nam vào tình thế khó khăn, có nguy cơ phá sản. Một bộ phận khác lại cho rằng, việc mở cửa thị trường không tác động và ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hiện nay, từ đó có tư tưởng chủ quan, thiếu sự chuẩn bị cho lộ trình mở cửa, hội nhập khu vực và thế giới. Thứ trưởng Nguyễn Cẩm Tú khẳng định: Không phải từ 1/1/2009, Việt Nam hoàn toàn mở cửa thị trường bán lẻ mà là việc mở cửa thị trường dịch vụ phân phối Việt Nam đã thực hiện ngay sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO (tháng 1/2007).

Về hình thức đầu tư, ngay khi Việt Nam gia nhập WTO, được đầu tư và hoạt động theo hình thức liên doanh, trong đó nhà ĐTNN chiếm không quá 49% vốn điều lệ. Từ 1/1/2009, được đầu tư theo hình thức 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài. Về lập cơ sở bán lẻ, quyền phân phối của nhà ĐTNN gắn liền với quyền được lập cơ sở bán lẻ thứ nhất. Khi lập cơ sở bán lẻ thứ hai được xem xét trên cơ sở kiểm tra nhu cầu kinh tế - ENT (số lượng các nhà cung cấp dịch vụ đang hiện diện trong một khu vực địa lý, sự ổn định của thị trường và quy mô địa lý…).

Theo quy định các mặt hàng như: lúa gạo, đường, thuốc lá và xì gà, dầu thô và dầu đã qua chế biến, dược phẩm, thuốc nổ, sách, báo, tạp chí, kim loại quý và đá quý, vật phẩm đã ghi hình trên mọi chất liệu (đĩa, băng, các phương tiện đã lưu trữ thông tin…) là những loại hàng hóa nhà ĐTNN không được quyền phân phối tại Việt Nam. Theo lộ trình từ 1/1/2009, nhà ĐTNN được phân phối các loại hàng hóa gồm: máy kéo, phương tiện cơ giới, ô tô con và xe máy; từ 1/1/2010: được phép phân phối rượu, xi măng và clinke, phân bón, sắt thép, giấy, lốp xe, thiết bị nghe nhìn. Và chắc chắn người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi về giá với các mặt hàng này, do các doanh nghiệp phải cạnh tranh gay gắt hơn.

Các thuận lợi của doanh nghiệp bán lẻ trong nước

Bước vào sân chơi quốc tế, để thành công cần có 3 yếu tố: Vốn, chiến lược và kinh nghiệm quản lý. Mặt khác, cần đảm bảo thêm tiêu chí tiện lợi cho khách hàng, có mặt đúng nơi có nhu cầu, đa dạng chủng loại hàng hoá...".

Các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam có thuận lợi là hiện kênh phân phối truyền thống đang chiếm khoảng trên 85% lưu chuyển hàng hóa bán lẻ. Về dài hạn, tỷ lệ này giảm dần nhưng về tuyệt đối sẽ tăng lên. Đây là dư địa cho các doanh nghiệp, hộ kinh doanh Việt Nam vì các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu vào khai thác thị trường thông qua kênh phân phối hiện đại (trung tâm thương mại, đại siêu thị, siêu thị…). Đặc điểm của phân phối (nhất là bán lẻ) là tính phân tán cao và gắn với địa điểm bán lẻ cụ thể, với địa bàn dân cư cụ thể.

Với mạng lưới các điểm bán lẻ khác dày đặc, phân bố khắp nơi đang trở thành một lợi thế cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh Việt Nam. Hơn ai hết, các doanh nghiệp và hộ kinh doanh Việt Nam gắn bó về văn hóa, hiểu biết về tập quán, nhu cầu của người tiêu dùng Việt Nam và có cơ hội để học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến, phương thức kinh doanh hiện đại cũng như có thêm động lực trong việc đổi mới và phát triển kinh doanh.

Mặt khác, 130 DN hoạt động trong lĩnh vực phân phối, bán lẻ của Việt Nam đã bắt tay thành lập Hiệp hội các Nhà bán lẻ VN (AVR) vào tháng 10. Mối liên kết này tiếp thêm sức mạnh cho các DN bán lẻ trong nước, khi phải đối đầu với các đối thủ quá mạnh. Hơn nữa, trong cam kết, để có thời gian cho doanh nghiệp Việt Nam chuẩn bị, Chính phủ đã thực hiện việc mở cửa theo lộ trình, áp dụng kiểm tra nhu cầu kinh tế khi cấp phép từ cơ sở bán lẻ thứ hai trở lên đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, không mở cửa hoặc mở cửa theo lộ trình đối với một số hàng hóa.

Các khó khăn của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

Theo các chuyên gia kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam hiện có nhiều thuận lợi trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Tuy nhiên, không ít DN trong nước lo ngại phải đối phó với nguy cơ mất thị trường, những chiến lược cạnh tranh ráo riết do sự xuất hiện của các tập đoàn, đại gia ngành bán lẻ nước ngoài. Các DN Việt Nam - nhất là các DNNVV- sẽ gặp không ít khó khăn như hạn chế về tiềm lực tài chính cũng như liên kết toàn cầu, chưa có kinh nghiệm quản lý những hệ thống lớn, nguồn nhân lực hạn chế và đặc biệt là không đủ khả năng thực hiện những chiến lược phát triển dài hạn.

Các khó khăn của các doanh nghiệp bán lẻ trong nước như: Các doanh nghiệp nước ta còn thiếu hệ thống đào tạo chuyên ngành, hơn 2/3 các doanh nghiệp bán lẻ chưa sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý. Ngoài ra, vấn đề quảng bá hình ảnh còn ở mức độ đơn giản và sơ khai; vấn đề hậu cần cho hệ thống phân phối, bán lẻ còn thiếu đồng bộ, chưa đạt chuẩn khu vực và quốc tế; việc tổ chức cung ứng hàng hóa còn phụ thuộc nhiều vào các nhà sản xuất và các doanh nghiệp bán buôn....

Bên cạnh đó, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hộ kinh doanh Việt Nam yếu vì đại bộ phận các doanh nghiệp có quy mô nhỏ; trình độ quản lý lạc hậu; phương thức kinh doanh chưa tiên tiến; cơ sở hạ tầng kinh doanh chưa hiện đại; lực lượng lao động chất lượng không cao thiếu tính chuyên nghiệp; chiến lược kinh doanh chưa được quan tâm đúng mức...

Bên cạnh đó, tính liên kết giữa các doanh nghiệp yếu như: liên kết dọc giữa nhà sản xuất - nhà bán buôn - nhà bán lẻ; liên kết ngang giữa nhà bán buôn với nhà bán buôn, nhà bán lẻ với nhà bán lẻ; liên kết giữa nhà phân phối với các nhà cung ứng dịch vụ ngân hàng… Giữa năm 2007, Công ty VDA – một liên doanh giữa 4 “đại gia” của VN (Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn - Satra, Saigon Co.op, Tổng Công ty Thương mại Hà Nội và Tập đoàn Phú Thái) ra đời với sự ủng hộ của nhiều bộ ngành chức năng. Nhưng hơn 1 năm hoạt động, đến nay VDA vẫn chỉ loay hoay với một số dự án phát triển logicstic tại Đà Nẵng và chưa đưa vào hoạt động được siêu thị nào. Một DN thành viên thừa nhận, dự án này sẽ khó có thể phát triển mạnh như mong muốn, vì mạnh ai nấy lo cho DN của mình! Một nguyên nhân khiến cho sự liên kết giữa các doanh nghiệp bán lẻ trong nước không thành công đó là sự không “phục” nhau giữa các doanh nghiệp.

Về phương hướng trong thời gian tới, theo các chuyên gia, cơ cấu tiêu dùng sẽ có nhiều thay đổi, đó là tỷ trọng hàng hóa lưu thông qua kênh phân phối truyền thống (chợ, cửa hàng nhỏ) sẽ giảm dần, thay vào đó là mua sắm văn minh, hiện đại sẽ phát triển mạnh. Do vậy, cần phải xác định được vấn đề này thì chúng ta mới tập trung đúng nơi, đúng chỗ cho ngành phân phối. Theo các chuyên gia, Bộ Công thương, trước mắt phải tập trung cho loại hình bán lẻ tiên tiến, hiện đại và chuyên nghiệp, đồng thời xây dựng các trung tâm thương mại, siêu thị quy mô lớn và vừa, từ đó kết nối thành chuỗi trung tâm mua sắm, chuỗi siêu thị. Từng bước nâng cấp và cải tạo các cửa hàng bán lẻ trở thành các cửa hàng tiện lợi.

Bên cạnh đó, cần xây dựng và hoàn thiện đề án phát triển ngành thương mại nội địa. Kinh nghiệm cho thấy, nếu không có sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ và sự vào cuộc mạnh mẽ của nhiều bộ ngành chức năng thì đề án sẽ khó thành hiện thực. Ngoài ra để có thể cạnh tranh với các tập đoàn bán lẻ nước ngoài cũng cần sự nỗ lực rất lớn từ phía các doanh nghiệp. Trước mắt, các doanh nghiệp cần cải thiện năng lực cạnh tranh, khả năng quản lý, chất lượng nguồn nhân lực... Tăng cường sự liên kết, phối hợp với các doanh nghiệp bán lẻ khác trong nước nhằm tận dụng những lợi thế của nhau, nhằm tăng tính cạnh tranh trên thị trường.

Tài liệu tham khảo

1. Triển khai nghị quyết của Quốc hội về phát triển KT-XH và ngân sách nhà nước năm 2009: Kiến nghị: Đổi mới và linh hoạt hơn – 26/12/2008 – www.sggp.org.vn

2. Giải pháp phát triển KT-XH năm 2009: Chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế, kích cầu đầu tư và tiêu dùng – 25/12/2008 – www.sggp.org.vn

3. Gói kích cầu 6 tỷ USD: Giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp nhiều lao động, 25/12/2008 – www.sggp.org.vn

4. Kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2009? – 24/12/2009 – www.vneconomy.vn

5. Làm gì trước nguy cơ 3 triệu người bị giảm, mất việc? – 23/12/2008 – www.tienphong.vn

6. Những “địa chỉ” nào nên kích cầu? – 23/12/2008 – www.tienphong.vn

7. Triển khai bảo hiểm thất nghiệp từ 1.1.2009 - 23/12/2008 – www.laodong.com.vn

8. Kích cầu: Cẩn thận kẻo “kích” nhầm chỗ! – 22/12/2008 – TBKT Việt Nam

9. Nhiều doanh nghiệp lo mất thị trường – 19/12/2008 – www.laodong.com.vn

10. Nhiều giải pháp cấp bách ngăn chặn suy giảm kinh tế - 15/12/2008 – www.vneconomy.vn

11. Ngăn chặn suy giảm kinh tế: Chính phủ triển khai đồng bộ các giải pháp cấp bách – 03/12/2008 – www.sggp.org.vn

12. Một số nguồn khác

Nguồn: VNEP, tháng 12/2008