VIỆN NGHIỆN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

CỔNG THÔNG TIN KINH TẾ VIỆT NAM

Tin mới

Tháng 6/2008

06/08/2010 - 144 Lượt xem

TỔNG HỢP TIN KINH TẾ NỔI BẬT

 

  1. Tình hình tăng trưởng và lạm phát

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm khoảng 6,5%. Đây là một kết quả đáng ghi nhận trong bối cảnh hiện nay, tạo đà cho 6 tháng còn lại.

-          Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tiếp tục phát triển ổn định, đạt 93,1 nghìn tỷ đồng tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2007. Đáng chú ý là sản xuất lúa được mùa, sản lượng đạt trên 18 triệu tấn, tăng 1 triệu tấn so với cùng kỳ năm trước.

-          Về công nghiệp giá trị sản xuất ước đạt 326 nghìn tỷ đồng, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng chưa đạt kế hoạch đầu năm đề ra (17,3 – 18%), nhưng đạt kế hoạch điều chỉnh của toàn ngành (16,3 – 16,6%).

-          Về xuất khẩu, tính chung kim ngạch 6 tháng đầu năm đạt 29,7 tỷ USD, tăng 31,8% so với cùng kỳ năm 2007 và bằng 50,1% so với kế hoạch năm. Kim ngạch nhập khẩu tính chung 6 tháng đầu năm là 44,5 tỷ USD, tăng 60,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Mức nhập siêu của tháng 6 là 1,3 tỷ USD, tuy có giảm 32% so với tháng 5/2008 nhưng 6 tháng thì tỷ lệ nhập siêu là 14,7 tỷ USD tương đương 49,7% kim ngạch xuất khẩu, cao hơn cả năm 2007. Đây là một con số khá cao so với kế hoạch của Chính phủ (nhập siêu năm 2008 từ 19 – 20 tỷ USD).

-          Theo Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 6 tháng đầu năm, cả nước thu hút được trên 31,6 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tăng hơn 3 lần so với cùng kỳ năm trước. Theo ý kiến của các chuyên gia, kỷ lục mới về thu hút vốn đầu tư nước ngoài thể hiện sự tin tưởng của các nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư của Việt Nam hiện nay, mặt dù nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức như lạm phát tăng cao, giá cả biến động…

-           Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2008 tăng ở mức 2,14%. Đây là mức tăng thấp hơn nhiều so với mức tăng kỷ lục của tháng 5/2008 (3.91%). Với mức tăng này chỉ số tiêu dùng đã tăng 18,04% so với tháng 12/2007. Trong các nhóm hàng hóa, hàng ăn và dịch vụ ăn uống vẫn tiếp tục đứng đầu về tốc độ tăng giá với mức tăng 3.39%  (trong đó lương thực tăng 4,29% và thực phẩm tăng 3,05%). Đứng trong số các nhóm hàng hóa tăng giá mạnh vẫn tiếp tục có nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng.

Theo Thứ Trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Cao Viết Sinh, tình hình kinh tế Việt Nam đã có nhiều khởi sắc là do các nguyên nhân sau: Thứ nhất, giải pháp tiền tệ của Chính phủ đã phát huy tác dụng, thể hiện rõ nhất là tổng phương tiện thanh toán đã giảm nhiều so với trước đây, trong khi lạm phát có liên quan rất nhiều đến phương tiện thanh toán. Thứ hai, vụ đông xuân năm nay ở cả các tỉnh phía Bắc và phía Nam đều được mùa lớn. Năng xuất lúa tăng hơn so với năm 2007. Trong khi cơ cấu lạm phát có tới 42,8% là nhóm lương thực, thực phẩm. Vì được mùa lương thực nên đã làm giảm áp lực, lo lắng về tình trạng thiếu gạo và trấn an tâm lý người dân, không đẩy giá lương thực - thực phẩm tăng cao. Thứ ba, việc Chính phủ cho phép tiếp tục xuất khẩu gạo cũng là một chính sách có tác động tích cực cho thị trường, nhất là yếu tố tâm lý người dân. Trước đây, do lo ngại thiếu lương thực nên Chính phủ chỉ dự kiến xuất khẩu gạo đến tháng 9/2008 là 3,5 triệu tấn, sau đó có xem xét cụ thể để tăng thêm. Nhưng vụ đông xuân vừa rồi lại được mùa nên không chờ đến tháng 9/2008 mà Chính phủ tuyên bố ngay từ tháng 6 tăng xuất khẩu gạo từ nay đến cuối năm lên 4,5 triệu tấn. Thứ tư, tốc độ xây dựng cơ bản trong quý 2 đã chậm, chủ yếu do trượt giá, nên nhu cầu tiêu thụ nguyên vật liệu xây dựng không còn sôi nổi như năm ngoái. Điều này khiến giá cả thị trường bớt nóng hơn so với giá thế giới, thị trường tạm bình ổn.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận đinh, tốc độ tăng giá tiêu dùng chậm lại, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô có nhiều biểu hiện tốt. Điều này cho thấy 8 nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ đã bắt đầu phát huy hiệu quả. Trong khi đó, các chuyên gia tài chính ngân hàng cũng cho biết, những giải pháp cơ bản về kiềm chế lạm phát bắt đầu phát huy tác dụng. Việc tiếp tục thực hiện quyết liệt các giải pháp này sẽ mang lại hiệu quả rõ nét trong những tháng cuối năm. Dự báo về tình hình thị trường, các chuyên gia Bộ Công thương cho rằng, tất cả các cơn sốt giá từ đầu năm tới nay đều không phải do nguyên nhân mất cân đối cung cầu mà chủ yếu là do yếu tố đầu cơ và tâm lý. Các cơn sốt đều đã được chặn đứng, giá cả các hàng hóa đang bình ổn trở lại. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, sản xuất lúa gạo được mùa lớn, tình hình dịch bệnh cũng đang được khống chế... Đây là yếu tố quan trọng trong việc bình ổn tâm lý người tiêu dùng sau cơn sốt giá gạo vừa qua, hy vọng mức tăng giá ở nhóm hàng lương thực - thực phẩm cũng sẽ được giảm nhiệt trong thời gian tới.

Về các biện pháp kiềm chế lạm phát trong thời gian tới, Chính phủ đã khẳng định sẽ tiếp tục kiểm soát chặt giá cả, tránh tình trạng đầu cơ đối với các mặt hàng thiết yếu. Theo đó, Thủ tướng chỉ đạo, tiếp tục giữ  ổn định giá điện, nước sạch và cước vận chuyển xe buýt công cộng đến hết năm 2008. Với mặt hàng xăng, dầu, sẽ thực hiện quỹ bình ổn giá xăng dầu tại doanh nghiệp khi có điều kiện thuận lợi. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Công thương và các Bộ, ngành liên quan cụ thể hóa điều kiện thực hiện cũng như cơ chế quản lý, sử dụng, hạch toán quỹ này. Bộ Tài chính chủ động bố trí ngân sách, bù lỗ kịp thời mặt hàng dầu theo quy định nhằm giảm bớt áp lực về vốn và chi phí kinh doanh cho các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu.

Ngày 25/06/2008 Thủ tướng Chính Phủ đã có văn bản gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và một số Bộ, ngành về việc thực hiện biện pháp kiềm chế lạm phát và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô những tháng cuối năm 2008, yêu cầu các Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các đơn vị cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nhóm giải pháp, đặc biệt là các giải pháp ổn định tiền tệ, đẩy mạnh phát triển sản xuất, giảm nhập siêu và bảo đảm an sinh xã hội.

  1. Thị trường tiền tệ

a)      Lãi suất

Lãi suất huy động của các Ngân hàng tiếp tục có những diễn biến phức tạp. Cuộc đua lãi suất của các ngân hàng vẫn chưa có dấu  hiệu ngừng lại khi liên tiếp các ngân hàng tăng lãi suất huy động vốn lên khá cao. Biến động về lãi suất huy động VNĐ đã gây xáo trộn trên thị trường ngân hàng. Trước những mức lãi suất khác nhau, dòng tiền gửi trên thị trường đã có những xáo trộn nhất định. Ngoài hoạt động “đảo” hợp đồng, trường hợp rút tiền từ ngân hàng có lãi suất thấp “chạy” sang điểm có mức cao hơn diễn ra. Lãi suất huy động lên mức mới sẽ hút thêm những nguồn tiền đang nhàn rỗi trong dân và ngoài hệ thống về, nhưng cũng tạo một kiểu chạy vòng bất lợi giữa các ngân hàng thương mại. Theo ý kiến của các chuyên gia, kiểu vốn chạy vòng này là một điều khá lo ngại. Bởi dòng chảy này không tạo ra nguồn vốn mới mà làm nảy sinh thêm chi phí và gây bất lợi cho chính các ngân hàng đặc biệt là trong ổn định hoạt động và quản lý vốn. Các ngân hàng cần xác định những mức hợp lý nhất để vừa đảm bảo hấp dẫn, đảm bảo những quyền lợi của người gửi tiền nhưng cũng cần đảm bảo sự ổn định chung của hệ thống, cũng như sự an toàn của mình.

Để đảm bảo được quyền lợi, sự ổn định trong hoạt động của các ngân hàng, và đảm bảo nguồn vốn cho nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành hai quyết định quan trọng, tăng mạnh các lãi suất điều hành chủ chốt. Theo đó, từ ngày 11/06/2008 lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đã tăng từ 12% - 14%/năm. Các ngân hàng thương mại được phép điều chỉnh tăng lãi suất cho vay VNĐ tối đa 150% lãi suất cơ bản. Cùng với việc tăng mạnh lãi suất cơ bản, Ngân hàng Nhà nước cũng tăng lãi suất tái cấp vốn từ 13% -15 %/năm, lãi suất chiết  khấu từ 11% lên 13%/năm và có hiệu lực từ ngày 11/06/2008. Với những mức lãi suất như trên, các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất huy động và cho vay VND theo kế hoạch phù hợp để tăng khả năng huy động và cho vay vốn. Theo Ngân hàng Nhà nước, việc điều chỉnh nói trên là để tiếp tục thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Bên cạnh đó, ngoài lãi suất cho vay ghi trong hợp đồng tín dụng, một số tổ chức tín dụng thực hiện thu phí liên quan đến cho vay (phí tư vấn, phí hồ sơ vay vốn, phí thẩm định…) đã làm tăng đáng kể chi phí vay vốn thực tế của khách hàng vay, chưa đảm bảo hài hòa lợi ích giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay. Mặt khác, Luật Ngân hàng Nhà nước, Bộ Luật Dân sự và Pháp lệnh phí và lệ phí không quy định cụ thể về phí lên quan đến hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng. Để đảm bảo thi hành nghiêm túc cơ chế điều hành lãi suất cơ bản. Ngân hàng Nhà nước đã có quyết định yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện việc không thu phí liên quan đến hoạt động cho vay.

Theo Quyết định 1434/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc giữ nguyên lãi suất cơ bản đồng Việt Nam, lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam từ ngày 01/07/2008 tiếp tục được duy trì ở mức 14%/năm. Với mốc lãi suất này, lãi suất cho vay VNĐ của các ngân hàng thương mại vẫn ở mức tối đa là 21%/năm. Thống đốc Ngân hàng nhận định “theo tín hiệu thị trường, đặc biệt là theo hướng kiềm chế lạm phát tốt, dự báo tốt, điều hành tốt thì lãi suất cơ bản sẽ ổn định và đi dần xuống. Đảm bảo sự hài hòa các mối quan hệ, yêu cầu từ người gửi tiền, người đi vay, cũng như thúc đẩy sản xuất phát triển”.

b)      Tỷ giá hối đoái

Trên thực tế, thời gian qua thị trường Việt Nam đã hình thành hai tỷ giá, một tỷ giá chính thức mà công dân và doanh nghiệp không hề được hưởng và một tỷ giá trên thị trường tự do biến động chóng mặt mà họ phải chấp nhận. Điều khó giải thích là tỷ giá chính thức được áp dụng để mua ngoại tệ của doanh các doanh nghiệp thu được ngoại tệ (các doanh nghiệp này bị buộc phải bán cho ngân hàng theo luật pháp của Nhà nước về ngoại hối), trong khi chính các doanh nghiệp bán ngoại tệ đó, nếu cần mua ngoại tệ để đáp ứng cho quá trình sản xuất – kinh doanh đều không được thừa nhận có quyền mua ngoại tệ mà phải trả phí. Phí này càng lớn tuỳ theo sự chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do. Thời gian gần đây còn có hiện tượng găm giữ ngoại tệ, tạo nên sự “khan hiếm” ảo gây ra tình trạng hỗn loạn trên thị trường.

Để phản ánh sát hơn tình hình cung - cầu trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, khắc phục tình trạng găm giữ ngoại tệ, ngày 11/06/2008 Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá mới 16,461 VNĐ/USD - tăng 322 đồng so với trước. Theo công bố của Ngân hàng Nhà nước, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam là 20.7 tỷ USD và NHNN “có đủ phương tiện để ổn định tỷ giá”. Nhằm kiểm soát việc mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do và kiềm chế biến động tỷ giá, NHNN nghiêm cấm bán ngoại tệ (cụ thể là đô la Mỹ) cho các cá nhân từ các ngân hàng thương mại và đại lý mua, bán ngoại tệ. Đồng thời, việc áp dụng các biện pháp khác nhau nhằm hạn chế về cầu ngoại tệ như tạm thời cắt hạn ngạch nhập khẩu vàng, hạn chế nhập khẩu các mặt hàng chưa thật cần thiết, tăng thuế ô tô… cũng góp phần giảm bớt sức ép về cầu ngoại tệ.

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, biện pháp cấm bán ngoại tệ được coi là cần thiết trong tình hình bức bách vừa qua, song cần xác định minh bạch và rõ ràng hơn về việc đáp ứng các nhu cầu ngoại tệ hợp lý và hợp pháp của công dân. Nhà nước cần quy định rõ những  giao dịch nào là hợp lý và hợp pháp và dành một phần ngoại tệ để góp phần bình ổn tỷ giá cho thị trường đó; cần công khai, minh bạch, tôn trọng các nhu cầu hợp lý và hợp pháp của công dâ,, tôn trọng các quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp, công khai các động tác can thiệp cần thiết để ổn định phần hợp lý của thị trường tự do.

Để ổn định tỷ giá trong thời gian tới Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra một số biện pháp nhằm “can thiệp” mạnh mẽ vào thị trường tiền tệ. Các biện pháp này bao gồm: Thứ nhất, mở rộng biên độ giao dịch tỷ giá của các tổ chức tín dụng lên +/-2% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng. Thứ hai, buộc các tổ chức tín dụng phải niêm yết, mua – bán đúng với giá Ngân hàng Nhà nước công bố và cộng thêm biên độ +/-2%; không được dùng đồng tiền thứ ba để tính ra tỷ giá VND với USD gây xáo trộn và không trung thực về tỷ giá; không được thu thêm phí liên quan… Thứ ba, tăng cường công tác thanh, kiểm tra và phối hợp với các ngành chức năng khác để phát hiện và xử lý các trường hợp vi phạm, tập trung chấn chỉnh lại hệ thống các đại lý, các bàn thu đổi ngoại tệ của các tổ chức tín dụng.

Cùng với mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, Ngân hàng Nhà nước đã đề ra 7 giải pháp trọng tâm cho công tác 6 tháng cuối năm 2008 đó là:

Thứ nhất, điều hành linh hoạt lượng tiền cung ứng nhằm kiểm soát tốc độ tổng phương tiện thanh toán và tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức hợp lý thúc đẩy cho hoạt động sẳn xuất, kinh doanh, nhất là đối với các lĩnh vực xuất khẩu, nông nghiệp và nông thôn.

Thứ hai, Theo dõi chặt chẽ tình trạng thanh khoản của các ngân hàng để có biện pháp xử lý phù hợp, đảm bảo an toàn thanh toán, ổn định thị trường tiền tệ.

Thứ ba, xác đinh và công bố lãi suất cơ bản và điều chỉnh các loại lãi suất tái cấp vốn phù hợp với điều kiện của thị trường và mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ.

Thứ tư, áp dụng cơ chế kiểm soát tín dụng ở mức hợp lý, kết hợp với đảm bảo an toàn thanh toán; đồng thời, yêu cầu các ngân hàng thương mại điều chỉnh cơ cấu tín dụng, đáp ứng các nhu cầu vốn có hiệu quả và tập trung cho lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, nông nghiệp, nông thôn.

Thứ năm, thực hiện các giải pháp để ổn định thị trường ngoại hối: Theo dõi và dự báo sát diễn biến cán cân thanh toán quốc tế và can thiệp thị trường ngoại hối thích hợp; phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm hoạt động mua, bán  ngoại tệ trái pháp luật trên thị trường; Phối hợp với các bộ, ngành nghiên cứu cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh sàn giao dịch vàng và tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh của các công ty vàng bạc.

Thứ sáu, đẩy nhanh tiến độ triển khai các công việc cụ thể của các đề án, thành phần thuộc đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ; tiếp tục xử lý các vướng mắc, thực hiện tốt chỉ thị số 20/2007/CT – TTg về trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương ngân sách nhà nước, mở rộng kết nối mạng lưới ATM của các ngân hàng thương mại.

Thứ bảy, phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam trong việc triển khai các biện pháp về điều hành chính sách tiền tệ. Phối hợp với các bộ, ngành và cơ quan báo chí làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền về tình hình kinh tế, xã hội trong và ngoài nước; các thông tin định kỳ hàng tuần và đột xuất về kết quả điều hành chính sách tiền tệ, hoạt động của các ngân hàng thương mại, diễn biến thị trường tiền tệ để ổn định tâm lý các nhà đầu tư và công chúng.

  1. Thị trường chứng khoán

Sau nhiều ngày giảm điểm liên tiếp trên thị trường chứng khoán đẩy chỉ số VN-Index (tại sàn Thành Phố Hồ Chí Minh) và HaSTC (trên sàn Hà Nội) xuống thấp kỷ lục, thị trường chứng khoán đã có dấu hiệu khởi sắc vào những ngày cuối tháng 6, tâm lý của nhà đầu tư phần nào đã được giải tỏa. Đây đươc coi là kết quả tích cực của việc Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước quyết định nới rộng biên độ dao động giá cổ phiếu thêm 1% (HoSTC là 3% và HaSTC là 4% từ ngày 19/06/2008). Thị trường bắt đầu lấy lại đà tăng, cầu thị trường đã ổn định và tăng trưởng mạnh.

Nguyên nhân tăng điểm thời gian qua là do các tin vĩ mô tốt đẹp được đưa ra từ tuần trước đó. Thông tin dự trữ ngoại hối trên 20 tỷ USD đủ để dẹp tan sự lo sợ về khủng hoảng ngoại hối ngắn hạn, đồng thời làm thị trường ngoại hối hạ nhiệt, tiền USD được chuyển ngược lại thành tiền VND và có một lượng không nhỏ chạy vào thị trường chứng khoán. Các chỉ số kinh tế vĩ mô 6 tháng đầu năm vừa được công bố cũng rất khả quan (thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI), xuất khẩu đứng ở mức cao kỷ lục; nhập khẩu suy giảm; lạm phát giảm…)

Tất cả các yếu tố trên, cùng với sự suy giảm kéo dài của thị trường chứng khoán trong hơn 1 năm qua đã là một lực đẩy khá mạnh kéo giá chứng khoán trên cả 2 sàn Hà Nội và TP.HCM hồi phục mạnh mẽ.

Cầu cổ phiếu tăng khá mạnh không chỉ từ phía các nhà đầu tư nước ngoài (với mục đích đầu tư dài hạn) mà còn xuất phát từ các nhà đầu tư trong nước trong bối cảnh nhiều kênh đầu tư khác như vàng trở nên rủi ro hơn trong 1-2 tuần vừa qua.

Tâm lý lo ngại về khủng hoảng kinh tế cũng được trấn an. Báo cáo của các tổ chức quốc tế (HSBC, Swiss, Credit…) cũng trấn an nhà đầu tư ngoại về sự ổn định của nền kinh tế. Một bộ phận nhà đầu tư ngoại đã bắt đầu mua mạnh trở lại, tạo sức cầu đồng thời tạo tâm lý phấn khởi cho nhà đầu tư trong nước. Các phiên giao dịch cuối tháng xuất hiện nhiều lệnh mua lớn vào cuối phiên, cho thấy khả năng tăng tiếp vào phiên giao dịch sau đó.

Theo các chuyên gia kinh tế, diễn biến sắp tới của thị trường chứng khoán phụ thuộc rất nhiều vào các tổ chức lớn. Sự phục hồi của thị trường trong những ngày vừa qua là do sự đầu tư của các khách hàng cá nhân và các tổ chức nước ngoài trong khi các tổ chức trong nước vẫn đang chần trừ đứng ngoài cuộc. Lý giải cho tình trạng này là do: Thứ nhất, một số công ty chứng khoán vẫn chưa phục hồi được khả năng của mình cũng như lòng tin. Nhiều công ty chứng khoán và tổ chức đã giải chấp mạnh trong mấy tuần gần đây, nên tâm lý của họ vẫn còn chưa chấp nhận thực tế là họ sẽ mua lại chính các cổ phiếu vừa giải chấp. Thứ hai, nhiều tổ chức hiện tại trong danh mục khối lượng cổ phiếu niêm yết vấn còn khá nhiều vì vậy họ không muốn tăng rủi ro bằng việc mua thêm cổ phiếu. Thứ ba, do tình hình kinh tế thế giới và trong nước vẫn còn chứa nhiều yếu tố tiềm ẩn rủi ro khiến các tổ chức đầu tư dài hạn phải cân nhắc. Thứ tư, thị trường chứng khoán chao đảo, xu hướng đầu cơ giá xuống thể hiện rõ. Lo ngại về lạm phát tăng cao, giá đầu tăng, đồng USD giảm giá, đã đầy các thị trường chứng khoán trên thế giới rớt điểm. Thứ năm, thời điểm 30/06 là thời điểm nhạy cảm đối với nỗ lực kiềm chế lạm phát của chính phủ. Hiện tại giá xăng dầu Việt Nam rẻ hơn khoảng 30% so với giá thế giới (do được bù giá). Nhưng xăng dầu không được đưa vào danh sách 14 mặt hàng bình ổn giá, mà được tăng theo lộ trình. Chưa ai đoán được điều gì sẽ xảy ra khi giá xăng dầu tăng. Tháng 7 cũng là tháng bắt đầu các công ty niêm yết thông báo kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2008. Chắc chắn tình hình lạm phát cao, chi phí tăng, tín dụng khó khăn, nhu cầu của nền kinh tế giảm sút, sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới tất cả các công ty. Thứ sáu, tâm lý bất ổn, cầu toàn đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tâm lý và quyết định của nhà đầu tư - hầu hết đều chưa thực sự tin tưởng vào khả năng phục hồi của thị trường chứng khoán nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Để phục hồi và phát triển thị trường chứng khoán, Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng xấu đến thị trường chứng khoán, củng cố lòng tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Theo đó, việc chào bán chứng khoán ra công chúng phải đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; mọi trường hợp chào bán vi phạm pháp luật phải bị đình chỉ và xử phạt theo quy định. Các tổ chức phát hành cổ phiếu riêng lẻ để tăng vốn phải làm thủ tục đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan quản lý cấp phép hoạt động về phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ. Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước tăng cường quản lý việc chào bán cổ phiếu riêng lẻ đối với các ngân hàng thương mại cổ phần, công ty tài chính cổ phần; đối với các công ty cổ phần bảo hiểm do Bộ Tài chính quản lý; các công ty đại chúng và công ty cổ phần chứng khoán do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; các doanh nghiệp do cơ quan đăng ký kinh doanh (Sở Kế hoạch và Đầu tư) quản lý. Các doanh nghiệp không phải pháp nhân Việt Nam không được chào bán chứng khoán trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp thực hiện theo lộ trình cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Các công ty cổ phần đại chúng, bao gồm các công ty niêm yết thực hiện chế độ kiểm toán, công bố thông tin, quản trị công ty theo quy định của Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn có liên quan.

Chỉ thị của Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Tài chính chỉ đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xây dựng đề án tổ chức giao dịch chứng khoán cho các công ty cổ phần đại chúng trong năm 2008 nhằm mở rộng thị trường chứng khoán có tổ chức.

Đặc biệt, Chỉ thị trên nêu rõ các doanh nghiệp nhà nước không được sử dụng vốn đầu tư của chủ sở hữu, quỹ đầu tư phát triển và nguồn vốn xây dựng cơ bản để tham gia góp vốn thành lập, mua cổ phần của các quỹ đầu tư chứng khoán (kể cả các quỹ đầu tư mạo hiểm), công ty đầu tư chứng khoán. Việc sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước để đầu tư tài chính, đầu tư vào thị trường chứng khoán không được làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp được Nhà nước giao.

Bộ Tài chính sẽ xây dựng kế hoạch tổng mức chào bán chứng khoán hàng tháng theo tín hiệu thị trường để đảm bảo cân đối cung cầu.

Việc phát hành chứng khoán riêng lẻ, phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ, luồng ngoại tệ vào ra của các nhà đầu tư, theo nội dung Chỉ thị, sẽ được giám sát chặt chẽ trong thời gian tới.

  1. Đầu tư ngoài ngành của các doanh nghiệp nhà nước

Ngày 6 tháng 6 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục có văn bản yêu cầu các tập đoàn, TCT khi đầu tư vào các lĩnh vực tài chính, chứng khoán, ngân hàng phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước khi thực hiện. Bộ Tài chính cũng được giao nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện.

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng sự mở rộng hoạt động của các tập đoàn, các TCT lớn sang những lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán hay bất động sản - vốn không phải là ngành nghề kinh doanh chính khi các doanh nghiệp này được thành lập - không hoàn toàn chỉ là phong trào.  Sự mở rộng phạm vi hoạt động này cùng với cơ chế quản lý tài chính theo hướng tạo điều kiện cho doanh nghiệp tự chủ về tài chính, chủ động huy động các nguồn lực cũng đã từng được Bộ Tài chính đánh giá cao bởi “thúc đẩy sản xuất và phát triển các dịch vụ”. Đây cũng là một cách để các doanh nghiệp giải quyết bức xúc về chuyện doanh nghiệp sản xuất “còng lưng” ra làm mà lợi nhuận nhiều khi chỉ đủ trả lãi vay ngân hàng. Nhất là khi nền kinh tế có những khó khăn thì doanh nghiệp phải chầu chực, săn đón để vay được vốn là chuyện không hiếm. Thêm vào đó, khái niệm “ngoài ngành nghề chính” vẫn chưa rõ ràng. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp phải băn khoăn, trong khi tạo kẽ hở để một số khác “lách luật” 

Kinh nghiệm thực tế ở nước ngoài cho thấy “không rơi ra ngoài mà lại có thêm cơ hội mở rộng phạm vi hoạt động của mình” là con đường mà nhiều tập đoàn tư nhân đã trải qua. Nhưng, những tính toán khi quyết định mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực ngoài truyền thống ở doanh nghiệp tư nhân, thường được cân nhắc, tính toán rất kỹ bởi đó là tiền cá nhân. Ngoài ra, tại các nước này, bên cạnh cơ chế công khai, minh bạch thì việc giám sát của pháp luật đối với những hành vi trục lợi và vi phạm luật pháp cũng rất chặt chẽ.

Còn ở Việt Nam, sự mở rộng lĩnh vực và ngành nghề hoạt động này đã khiến doanh nghiệp bị phân tán nguồn lực. Lĩnh vực kinh doanh chính không cho kết quả tốt trong khi lĩnh vực phụ lại mở rộng rầm rộ, chi phí phải bỏ ra cho các lĩnh vực mới cũng không hề nhỏ. Trong khi đó, theo đánh giá của Bộ Tài chính, công tác giám sát doanh nghiệp, công khai hóa tài chính và tình hình quản trị doanh nghiệp tại các doanh nghiệp nhà nước hiện còn nhiều hạn chế. Vậy nên mối quan ngại về việc các doanh nghiệp nhà nước không tuân thủ yêu cầu hạn chế đầu tư ra ngoài ngành là hoàn toàn chính đáng. 

  1. Phát triển nông nghiệp – nông thôn

Cho đến nay có thể nói nông dân Việt Nam là đối tượng phải hy sinh và chịu thiệt thòi nhiều nhất cho công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Hơn thế nữa, trong cuộc chiến chống lạm phát hiện tại, một bộ phận không nhỏ nông dân càng phải chịu thiệt đơn thiệt kép, thậm chí có nguy cơ bị bần cùng hóa khi gánh nặng hệ lụy của những biện pháp chính sách kiềm chế lạm phát dồn lên nông nghiệp.

Quá trình xây dựng các khu công nghiệp (KCN), khu đô thị... là một tất yếu của xã hội phát triển. Tuy nhiên, GS-TS Võ Tòng Xuân -  cố vấn cao cấp Trường ĐH An Giang - nhận định chúng ta làm công nghiệp một cách quá nôn nóng, thiếu cân nhắc, thiếu lắng nghe ý kiến phản biện của các nhà khoa học, các chuyên gia. Do vậy, nếu không có giải pháp hạ nhiệt thích ứng thì sự phát triển "nóng" các KCN sẽ "đốt cháy" sự phát triển bền vững của mặt trận nông nghiệp, nông thôn và nông dân; đồng thời, sẽ làm manh mún các vùng công nghiệp nước ta.

Gây bức xúc không nhỏ hiện nay là những vấn đề xoay quanh việc thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ mục đích phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ. Việc biến những cánh đồng canh tác màu mỡ thành sân golf và các khu công nghiệp, làm tổn hại nghiêm trọng đến sinh kế của người nông dân và an ninh lương thực quốc gia đã liên tục được cảnh báo. Hơn thế nữa, theo Nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Huy Ngọ, khi bị thu hồi đất nông nghiệp, nông dân là chủ thể ở nông thôn nhưng lại không được bàn bạc, mà chỉ được thông báo là thu hồi, họ rất bị động và mờ nhạt trong quá trình này. Đất đai dù là sở hữu Nhà nước song vẫn là hàng hoá, vì vậy phải sòng phẳng khi giải quyết việc thu hồi đất của nông dân để sử dụng cho các mục đích khác. Nông dân chính  là "Doanh nghiệp ở nông thôn", họ phải được thoả thuận đền bù với các doanh nghiệp công nghiệp dịch vụ khác vào kinh doanh trên đất nông nghiệp mà họ đang sản xuất. Để góp phần giải quyết vấn đề này, GS. Võ Tòng Xuân khuyến nghị: cần xây dựng KCN ở các vùng không thích hợp trồng lúa như đã làm ở khu Dung Quất, Nhà nước đầu tư hệ thống đường sá, cầu cống hiện đại đến tận nơi quy hoạch KCN, nên nông dân chẳng những không vướng phải sự thiệt thòi mà ngược lại, còn được khấm khá hơn vì có nhiều công ăn việc làm nhờ có sự xuất hiện của khu công nghiệp. Đồng thời, Nhà nước với trách nhiệm và chức năng của mình, trở thành trung tâm "gắn" Doanh nghiệp - nông dân đi đến thống nhất về trách nhiệm hỗ trợ nhau để cùng phát triển.

Với đại đa số nông dân Việt Nam, “làm thế nào để giàu từ nghề nông?” vẫn là một câu hỏi lớn. Thực tế là họ đang canh tác, sản xuất trên đất đai thiếu tính ổn định và manh mún. Sản xuất nông nghiệp cũng như những ngành kinh tế khác, nhà sản xuất rất cần được ổn định trên mảnh đất của mình để yên tâm đầu tư, phát triển sản xuất. Trong khi chúng ta giao đất cho các DN sản xuất công nghiệp, dịch vụ, giao cho người nước ngoài đến 50 năm, 90 năm, thì một bộ phận người làm nông nghiệp vẫn phải hoạt động trong tâm trạng thấp thỏm vì không biết đất đai của mình sẽ bị thu hồi vào lúc nào. Thêm vào đó, tính dự báo kém luôn khiến cho nông sản Việt Nam “mất giá” trước các đối thủ cạnh tranh. Nông dân không thể tự dò dẫm thông tin để am hiểu được thị trường thế giới. Kinh nghiệp thành công của nhiều nước cho thấy giữ vai trò hỗ trợ nông dân sản xuất lớn, mặt hàng có vị thế trên thị trường thế giới chính là các cơ quan chuyên thực hiện công tác dự báo, khuyến cáo nông dân và kèm theo đó là đưa ra chính sách thị trường phù hợp. Theo nhận định của TS. Đặng Kim Sơn, hiện tại trong nước cũng có các dự báo của các viện nghiên cứu, chuyên gia, tuy nhiên, chưa có một trung tâm chịu trách nhiệm chính về việc này. Đây có thể là một ẩn số của vấn đề nêu trên. Một ẩn số khác chính là lỗ hổng đào tạo “chất xám” nông nghiệp. Việt Nam hiện vừa thiếu, vừa thừa các kỹ sư nông nghiệp. Rất nhiều kỹ sư tốt nghiệp ra trường không có điều kiện hoặc không sẵn sàng công tác theo đúng chuyên môn của mình – gây nên sự lãng phí nhân lực và chất xám vô cùng lớn. Trong khi đó, những kỹ sư nông nghiệp trực tiếp làm việc trên các thửa ruộng, đem kiến thức của họ hỗ trợ nông dân phát triển nông nghiệp lại đang khan hiếm.

Vấn đề nữa hiện nay là chính sách chống lạm phát để nhằm vào những khu vực thiếu hiệu quả của nền kinh tế, nhưng những khu vực đó chưa chịu tác động, thì nông nghiệp nông thôn đã bị ảnh hưởng. Rõ ràng là gánh nặng của chính sách thắt chặt tiền tệ đã và đang đè lên nông nghiệp, làm tăng nguy cơ thâm hụt thương mại và tan vỡ năng lực sản xuất của người nông dân, nguy cơ rối loạn đời sống ở nông thôn. Ví dụ điển hình là tình trạng hàng nghìn hộ nuôi cá không bán được, thậm chí phải bán lỗ nặng nề do chính sách giữ giá đồng nội cao không khuyến khích doanh nghiệp nội địa xuất khẩu, mà trái lại còn tìm cách nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài về sản xuất để hạ giá thành. Tương tự là với lúa gạo. Vẫn còn hàng chục nghìn tỉ đồng tồn đọng trong các kho hàng của các công ty lương thực do gạo chưa được xuất khẩu. Số tồn kho lớn này không chuyển thành ngoại tệ để làm giảm thâm hụt trong cán cân thương mại, cũng không chuyển được thành VNĐ cho chu trình lưu thông mới thì lấy đâu ra tiền mặt để mua số lúa gạo sắp thu hoạch. Nhóm chịu thiệt thòi và gánh hậu quả cuối cùng của những chính sách này không ai khác chính là nông dân. Trong bối cảnh Chính phủ đang tập trung chống lạm phát, thì điều cần lưu ý với các doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt là với hoạt động nhập khẩu là không thể phán đoán theo cách nghĩ thông thường về hành vi của Chính phủ để lập kế hoạch kinh doanh ngắn hạn của mình. Khả năng phá sản là rất lớn đối với các công ty liều lĩnh, không hiểu mối nguy của lạm phát và rủi ro từ các chính sách chống lạm phát là gì. Lạm phát khi đã đi vào đời sống luôn mang yếu tố tâm lý nguy cơ, trong đó có cả tâm lý người sản xuất và tâm lý người tiêu dùng. Do đó, việc duy trì tâm lý ổn định, vững vàng để chọn luồng thông tin phù hợp và đưa ra những quyết định sáng suốt là hết sức quan trọng. Nhà nước cũng cần giải quyết những khiếm khuyết trong cơ chế thuế. Với lúa gạo khi xuất khẩu thì thuế VAT bằng không, nhưng kinh doanh nội địa thì VAT là 5%. Điều này sẽ không khuyến khích các doanh nghiệp bỏ chi phí tốn kém để xây dựng hệ thống phân phối nội địa mà không được khen hay thưởng, trái lại còn thêm gánh nặng thuế VAT.


Nguồn: VNEP, tháng 7/2008 


Các bài báo tham khảo:

  1. Kinh tế sáu tháng đầu năm, Thùy Trang – Thời báo Kinh tế Việt Nam, 27/06/2008
  2. Ổn định tỷ giá: Ngân hàng Nhà nước sẽ can thiệp như thế nào?, Minh Đức – Thời báo Kinh tế Việt Nam, 27/06/2008
  3. Điều hành linh hoạt, quyết liệt các biện pháp  - bình ổn thị trường tiền tệ, góp phần kiềm chế lạm phát – Thời báo Ngân hàng, 26/07/2008
  4. Thủ tướng chỉ đạo kiềm chế lạm phát đến cuối năm- Thông tấn xã Việt Nam, 26/06/2008
  5. Tuyên bố nên đi kèm biện pháp công khai, Lê Đăng Doanh – Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 26/06/2008
  6. Kinh tế đang chuyển biến tích cực, Mạnh Chung – Thời báo Kinh tế Việt Nam, 26/06/2008
  7. Nới lãi suất cho vay, cấm thu phí, tăng mạnh tỷ giá, Minh Đức – Thời báo Kinh tế Việt Nam, 10/06/2008
  8. Nông nghiệp gánh hệ lụy từ cuộc chiến chống lạm phát, Võ Hùng Dũng - 27/6/2008, VietnamNet
  9. Phát triển "nóng" các KCN là "đốt cháy" tam nông, Lục Tùng - 20/06/2008, Lao Động
  10. Lỗ hổng đào tạo "chất xám" nông nghiệp, Nguyễn Lân Dũng - 14/06/2008 , Lao Động
  11. Có “siết” được đầu tư ngoài ngành?, Thanh Hương – 30/6/2008, Diễn đang Doanh nghiệp