VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

CỔNG THÔNG TIN KINH TẾ VIỆT NAM

Tin tức

Quanh chuyện ngân hàng thương mại “lên đời” (8/2)

06/08/2010 - 147 Lượt xem


Cùng với đó, ngân hàng thương mại nước ngoài sẽ được phép thành lập chi nhánh và ngân hàng con tại Việt Nam. Để nâng cao khả năng cạnh tranh, nhiều ngân hàng thương mại nội địa đã tăng vốn và chuyển đổi mô hình hoạt động.

Sẽ không quá lời khi nói rằng, năm 2006 thực sự là “năm bùng nổ” của các ngân hàng thương mại Việt Nam, nhất là đối với khối ngân hàng thương mại cổ phần.

Làn sóng “đổi áo” từ các ngân hàng

Một loạt ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn trong năm 2006 đã được Ngân hàng Nhà nước cho phép chuyển mô hình hoạt động từ ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn sang ngân hàng thương mại cổ phần đô thị.

Kèm theo đó là làn sóng đổi tên ngân hàng. Chẳng hạn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nông thôn Ninh Bình đổi thành Ngân hàng Thương mại Cổ phần Toàn Cầu (G-Bank); Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nông thôn Sông Kiên đổi thành ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Việt (Navibank)...

Cùng với đó là quá trình “di cư” trụ sở chính từ các tỉnh lên các thành phố lớn như Hà Nội và Tp.HCM. Điều này làm tăng thêm cơ hội cho các khách hàng trong việc lựa chọn cho mình một nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng phù hợp nhất.

Năm 2006 chứng kiến sự kiện các ngân hàng đua nhau tăng vốn điều lệ. Giải pháp tăng vốn nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, giảm rủi ro, nâng cao sức mạnh của các ngân hàng thương mại trên thị trường.

Ngân hàng Nhà Hà Nội (Habubank) trong năm 2006 nâng vốn điều lệ từ 300 tỷ đồng lên 1.000 tỷ đồng, Ngân hàng An Bình nâng vốn từ 200 tỷ đồng lên 1.000 tỷ đồng, Ngân hàng Kỹ Thương (Techcombank) nâng vốn điều lệ từ 618 tỷ đồng lên 1.500 tỷ đồng...

Cho đến nay, hầu hết nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đã có chỉ số vốn/tổng tài sản đạt và vượt ngưỡng an toàn 8% theo thông lệ quốc tế.

Cuộc đổ bộ của các ngân hàng nước ngoài

Theo cam kết WTO, từ năm 2007, các ngân hàng và các tổ chức tài chính nước ngoài được phép mua cổ phần của các ngân hàng thương mại trong nước hoặc được phép thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài kể từ ngày 1/4/2007.

Điều này dẫn đến khả năng cạnh tranh mạnh mẽ giữa một bên là các ngân hàng trong nước còn yếu về vốn, trình độ quản lý và cả về chất lượng sản phẩm - dịch vụ với một bên là các tập đoàn tài chính - ngân hàng hùng mạnh của thế giới.

Cũng theo cam kết, Việt Nam vẫn giữ được hạn chế về mua cổ phần trong ngân hàng Việt Nam dành cho các nhà đầu tư nước ngoài tối đa 30% tổng số cổ phần. Đây là hạn chế đặc biệt có ý nghĩa đối với ngành ngân hàng, nhằm tránh khả năng sáp nhập hay thôn tính của các ngân hàng, các tổ chức tài chính nước ngoài đối với các ngân hàng thương mại trong nước.

Nhiều ngân hàng, các tổ chức tài chính nước ngoài đã quyết định mua cổ phần trong các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, như HSBC mua cổ phần của Techcombank, ANZ mua cổ phần của Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) hay Standard Chartered mua cổ phần của Ngân hàng Á Châu (ACB)...

Thực tế cho thấy, khi các doanh nghiệp của một nước nào đó đến đầu tư sản xuất kinh doanh ở đâu thường kéo theo các ngân hàng của nước họ đến đó. Chẳng hạn như các doanh nhân Đài Loan khi đến làm ăn ở Việt Nam đã kéo theo các ngân hàng của nước họ như TaishinBank, ChinfonBank... đến Việt Nam mở chi nhánh với thị trường nhắm vào chính các doanh nghiệp đến từ nước họ chứ không chỉ là các doanh nghệp hay các cá nhân tại Việt Nam.

 

Hoàng Thành

Nguồn: vneconomy.com.vn, ngày 8/2/2007