VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

CỔNG THÔNG TIN KINH TẾ VIỆT NAM

Tin tức

Năm 2007, nhiều yếu tố giúp bình ổn giá tiêu dùng

06/08/2010 - 231 Lượt xem

Giảm nhưng vẫn còn rất cao

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chỉ tăng 6,6% vẫn được xem là thành công nếu so với mức tăng 8,4 năm 2005 và mức 9,5 năm 2004. Nhìn nhận xu hướng tích cực này, bà Nguyễn Thị Thu - Vụ Chính sách Tiền tệ - Ngân hàng Nhà nước cho rằng, một trong những nguyên nhân giảm tăng giá là công tác điều hành giá cả của Chính phủ đã phát huy tác dụng.

Điều đó có thể ghi nhận qua việc điều hành xuất khẩu khẩu gạo, tạm ngưng xuất khẩu, mở cửa nhập khẩu khi giá lương thực tăng cao đột biến. Chưa cho phép tăng giá một số vật tư cơ bản như điện, phân bón; đồng thời kiểm soát chặt giá thuốc chữa bệnh. Việc giảm thuế nhập khẩu một số mặt hàng cũng làm giảm chi phí cho DN. Việc điều hành giá có hiệu quả, cộng với mức tăng giá các mặt hàng trên thế giới thấp hơn mức tăng năm ngoái đã cho những kết quả như trên.

Một nhân tố rất quan trọng khác là Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện một chính sách tiền tệ thắt chặt thận trọng. Mức lãi suất chỉ đạo và dự trữ bắt buộc đều ổn định hơn so với năm ngoái, tỷ giá được điều hành giảm nhẹ nhằm khuyến khích xuất khẩu đồng thời kiềm chế lạm phát. Các hoạt động trên thị trường mở và nghiệp vụ tái cấp vốn Ngân hàng Nhà nước đã liên tục hút tiền về.

Việc giữ tốc độ tăng giá tiêu dùng ở mức 6,6% được hầu hết các chuyên gia cho rằng đã giúp đảm bảo cho sự ổn định thị trường và hiệu quả tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, con số 6,6% vẫn là còn cao, nếu biết rằng, cùng một đầu vào chung của nền kinh tế thế giới, năm 2006 lạm phát ở Mỹ vẫn chỉ ở mức 2%, EU dưới 3% và Trung Quốc cũng chỉ 2%.

Một trong những nguyên nhân tác động trực tiếp tăng chỉ số giá tiêu dùng được nhiều chuyên gia nhắc đến vẫn là việc tăng giá đầu vào nhiều mặt hàng nguyên liệu nhập khẩu. Theo ông Nguyễn Duy Thiên - Cục Quản lý giá - Bộ Tài chính thì nhiều loại vật tư mà Việt Nam nhập khẩu số lượng lớn trong năm 2006 đều tăng giá mạnh. Tính đến 9 tháng 2006, giá xăng dầu đã tăng 28,52%, giá giấy tăng 6,2%, chất dẻo tăng 6,19% so với cùng kỳ năm 2006, giá vàng trên thế giới đã tăng cao nhất trong vòng 25 năm qua cũng tác động đến giá vàng trong nước, và thị trường bất động sản.

Tiến sỹ Nguyễn Thị Hiền:

Một ấn tượng mạnh đối với người tiêu dùng năm 2006 là người tiêu dùng được mua lịch với giá thấp hơn 30% so với mọi năm lại có mẫu mã đẹp hơn, chất lượng tốt hơn. Nguyên nhân là do chúng ta xoá bỏ độc quyền trong in và phát hành lịch của một số nhà xuất bản cho tư nhân tham gia rộng rãi trong khâu in và phát hành lịch. Đây là một thành công rất lớn của chính sách điều tiết vĩ mô năm 2006.

Giá cả năm 2007, Nhà nước bắt đầu xoá bao cấp cho các cơ sở sản xuất được coi là đặc biệt trước đây như sản xuất thep, phân Ure... cơ chế bù chéo giữa các ngành kinh tế sẽ giảm dần. Đây cũng có thể coi là một thành công của chính sách giá theo cơ chế thị trường. Trong những năm tới, giá xăng dầu cũng sẽ xoá dần bù lỗ.

Tôi cho như thế là đúng để cho giá cả Việt Nam hoà nhập với giá thế giới khi Việt Nam đã gia nhập WTO. Việc kiểm soát cũng cần thiết nhưng cần thu hẹp mới có đủ sức làm hiệu quả.

Theo ông Ngô Trí Long, Viện phó Viện Nghiên cứu thị trường giá cả - Bộ Tài chính, trong năm 2006, tỷ lệ đầu tư trên GDP khá cao khoảng 40% (đạt 390.500 tỷ đồng). Đây là tốc độ tăng tổng vốn đầu tư xã hội cao nhất so với các nước trong khu vực. Trong đó tỷ lệ đầu tư Nhà nước chiếm trên 50%. Tuy nhiên, đây là khu vực đầu tư kém hiệu quả, thất thoát lãng phí lớn nhất... góp phần khiến chỉ số giá tiêu dùng tăng.

Thực hiện đề án cải cách tiền lương 2003-2007, từ 1/1/2006, tiền lương tối thiểu đã tăng lên khoảng 28,6% cao hơn mức 20,7% so với năm 2005; mức lương đối với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cũng tăng từ 478-626 lên 710-870 ngàn đồng/tháng. Theo bà Nguyễn Thị Thu, đây là yếu tố làm tăng chi phí DN, tạo sức ép gia tăng lạm phát. Mặt khác, tăng trưởng kinh tế liên tục tăng cao khiến thu nhập người dân ngày càng được cải thiện đã tác động đến việc tiêu dùng của dân cư gia tăng. Thực tế, điều này đã tác động làm 5 nhóm hàng hoá chủ yếu phục vụ tiêu dùng tăng hơn năm ngoái.

Ngoài ra, các yếu tố như thời tiết không thuận lợi, dịch bệnh xảy ra trên gia súc và cây lúa đã khiến cho những nhóm mặt hàng này tăng mạnh. Riêng lúa gạo do bị ảnh hưởng của dịch rầy nâu, vàng lùn và lùn xoắn lá đã gây ra hiện tượng tăng giá đột biến vào những tháng cuối năm.

Trong khi đó, việc sử dụng chính sách tài khoá nới lỏng, với mức bội chi ngân sách tăng từ 4,9% năm 2005 lên 5% trong năm 2006 cũng tạo sức ép tăng lạm phát. Tổng phương tiện thanh toán cũng tăng cao hơn cùng kỳ do tín dụng và chi tiêu Chính phủ tăng cũng tác động đến việc tăng lạm phát.

Vào WTO, tác động giảm lạm phát

Nhận định về khả năng tăng giá năm 2007, các chuyên gia đều nhận định rằng, nếu không có những biến động lớn thì chỉ số tăng giá tiêu dùng năm 2007 sẽ thấp hơn năm 2006 ở mức khoảng 6%. Tuy nhiên, vẫn có những nhận định cho rằng mức tăng giá tiêu dùng 2007 có thể lên đến 7,5%, thậm chí có thể cao hơn.

Một trong những nguyên nhân để kỳ vọng về chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp là việc gia nhập WTO sẽ có tác động nhiều đến giá các loại hàng hoá nhập khẩu. Năm 2007, năm đầu tiên Việt Nam gia nhập WTO, các hàng rào bảo hộ phi thuế sẽ dỡ bỏ dần, thuế suất nhập khẩu theo lộ trình cam kết được cắt giảm. Việc công khai minh bạch mọi chính sách cơ chế quản lý cũng là điều kiện tạo ra thị trường cạnh tranh, giảm giá thành và chi phí giao dịch cho DN và sẽ tác động làm giảm chỉ số giá tiêu dùng.

Theo Tiến sỹ Nguyễn Thị Hiền, cái được lớn nhất khi gia nhập WTO đối với điều hành giá cả là chúng ta phải vận động theo quy luật tiến tới hội nhập. Vào WTO, sự ngăn cản lưu thông thị trường sẽ dần được loại bỏ. Cả người tiêu dùng và nhà sản xuất sẽ không còn cơ hội yêu cầu sự can thiệp của Nhà nước, tất cả đều phải ứng xử theo thị trường.

Điều lo ngại lớn nhất ảnh hưởng đến việc tăng giá trong năm 2007 là việc tăng giá hàng loạt mặt hàng quan trọng như: từ 1/1/2006 điện tăng giá bình quân 7,6%; than sẽ tăng giá đối với 4 hộ tiêu thụ lớn là điện, xi măng, phân bón và giấy từ tháng 1/2007 với mức tăng đề xuất 20%. Nhà nước sẽ không còn bù lỗ giá xăng và giảm mạnh bù lỗ giá dầu... Điều này sẽ gây áp lực tăng giá rất lớn lên các nhà sản xuất và chắc chắn gây sức ép tăng chỉ số giá tiêu dùng.

Tuy nhiên, với một cái nhìn khá lạc quan, một số chuyên gia cho rằng, điều này là không đáng lo ngại. Việc để giá cả các mặt hàng này tuân theo quy luật cung cầu sẽ khiến thị trường dần hoàn thiện, giá cả sẽ không còn bị bóp méo. DN buộc phải có sự điều chỉnh để cạnh tranh trong thị trường. Vào WTO, nguồn cung hàng hoá sẽ dồi dào hơn, không có chuyện tăng giá điện, than đầu vào là có thể tăng giá xi măng, giấy... Bởi vì sản phẩm nhập khẩu bên ngoài vào có giá cạnh tranh hơn sẽ là nhân tố khiến DN phải tính toán lại bài toán chi phí của mình. Với quan điểm này, bà Hiền cho rằng, Nhà nước cần thu hẹp diện tích đối tượng bình ổn giá đảm bảo tính năng động của thị trường.

Ngoài ra, bên cạnh các yếu tố khách quan như biến động giá cả thế giới, thiên tai và dịch bệnh thì các chuyên gia tiếp tục cảnh báo việc tăng mạnh đầu tư toàn xã hội sẽ có tác động đến lạm phát. Tất nhiên muốn tăng trưởng phải có đầu tư nhưng tỷ lệ vốn đầu tư Nhà nước cao, tỷ lệ thất thoát lãng phí của nguồn vốn này lớn cộng với hiệu quả đầu tư này thấp là một điều rất đáng lo ngại. Bên cạnh đó, năm 2007, năm được dự kiến sẽ vô cùng sôi động của thương mại và đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Một lượng vốn lớn sẽ được giải ngân chúng ta có thể khẳng định tác động tích cực của nó đối với nền kinh tế nhưng chưa ai tính hết những tác động đối với việc tăng tỷ lệ lạm phát.

Nguồn: VietnamNet