VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

CỔNG THÔNG TIN KINH TẾ VIỆT NAM

Tin tức

Luật Phá sản... phá sản (23/6)

06/08/2010 - 99 Lượt xem

Luật Phá sản lần đầu tiên được Quốc hội thông qua vào năm 1994, sau 10 năm nó đã được sửa đổi và bổ sung thêm 41 điều nhằm hoàn chỉnh những quy định mà các điều luật trước đó chưa bao quát hết. Thế nhưng, theo Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa, Giảng viên khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, nhìn dưới góc độ đón nhận của cộng đồng doanh nghiệp cũng như các cơ quan hành pháp và tư pháp, luật này hiện gần như đã... phá sản hoàn toàn.

Thẩm phán Phạm Xuân Thọ, Chánh tòa Kinh tế Tp.HCM, cho biết sau hơn 12 năm kể từ ngày Luật Phá sản ra đời, cả nước chỉ có 53 doanh nghiệp làm thủ tục phá sản tại tòa. Còn nếu tính từ khi Luật Phá sản sửa đổi có hiệu lực từ năm 2005, vỏn vẹn chỉ có hai doanh nghiệp phá sản theo luật này.

Tất nhiên những số liệu trên không phản ánh đúng tình trạng doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, dẫn đến phá sản ở Việt Nam, nhưng nó cho thấy Luật Phá sản đã không thể đi vào cuộc sống. Ông Phạm Xuân Thọ cho rằng, nhà đầu tư trong nước chưa có thói quen dựa vào tòa án để giải quyết các vấn đề phát sinh khi phá sản doanh nghiệp. Thêm vào đó, tâm lý lo sợ mang tiếng bị phá sản cũng khiến hầu hết nhà đầu tư đã không làm thủ tục phá sản tại tòa án, mà tự giải quyết nội bộ với nhau.

Nhưng nếu loại trừ yếu tố thói quen và tâm lý, thì số trường hợp tuyên bố phá sản tại tòa án trong hơn 12 năm qua cũng không thể thấp như vậy, nếu không có sự can thiệp của các cơ quan quản lý nhà nước.

Bà Phạm Chi Lan, thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, cho rằng số doanh nghiệp nhà nước đủ tiêu chuẩn phá sản trong những năm qua không phải ít. Nhưng thay vì để cho phá sản, Nhà nước lại can thiệp thông qua các biện pháp khoanh nợ, giãn nợ, xóa nợ nhằm dựng lại những đơn vị này. Bằng không thì thu xếp để những doanh nghiệp gần như đã chết trên thực tế được chui vào núp bóng các tổng công ty, công ty mẹ - công ty con hoặc cho vào tập đoàn.

Ngoài ra, theo Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, cố vấn cao cấp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tình trạng hình sự hóa các mối quan hệ kinh tế cũng góp phần làm cho số trường hợp phá sản theo Luật Phá sản rất thấp. Không ít trường hợp lẽ ra phải giải quyết theo Luật Phá sản thì chủ doanh nghiệp lại bị truy tố và xét xử theo luật Hình sự.

Luật Phá sản không chỉ là khuôn khổ pháp lý để làm thủ tục khai tử, mà nó còn tạo ra cơ hội tái sinh cho doanh nghiệp. Hơn thế nữa, đối với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, luật còn giúp nhà đầu tư giới hạn rủi ro, giới hạn phạm vi trách nhiệm của mình trong phạm vi tài sản của doanh nghiệp. Nhưng các yếu tố tích cực kể trên vẫn chưa được phát huy trong thực tế.

“Động lực để xin phá sản doanh nghiệp, nhất là khu vực doanh nghiệp nhà nước, không có”, ông Lê Đăng Doanh nhấn mạnh. Ông giải thích: “Đối với doanh nghiệp nhà nước, bản thân giám đốc và ban lãnh đạo sợ phá sản, vì làm như vậy họ sẽ bị mất chức cùng những quyền lợi đằng sau nó. Vì vậy, họ phải tìm cách ‘chạy’ với cơ quan chủ quản để tránh bị phá sản”.

Bên cạnh đó, ông Phạm Duy Nghĩa cũng cho rằng các cơ quan hành pháp và ngân hàng ở Việt Nam thường khó chấp nhận tính hữu hạn về trách nhiệm của doanh nghiệp. Các cơ quan và đơn vị này có xu hướng bắt buộc nhà đầu tư phải dùng tài sản cá nhân để giải quyết các khoản nợ của công ty. Có lẽ đây là lý do chính dẫn đến nhiều trường hợp phá sản không được xử tại tòa kinh tế, mà chuyển sang tòa hình sự.

Theo bà Phạm Chi Lan: “Sẽ rất nguy hiểm cho các doanh nghiệp khác nếu Nhà nước cố tìm cách duy trì sự sống cho những công ty mà lẽ ra đã phải phá sản. Các công ty này như những con bệnh dễ lây lan và có thể làm chết nhiều doanh nghiệp khác”.

Việc trì hoãn hoặc ngăn chặn cho phá sản dễ khiến các tổ chức tín dụng và nhiều doanh nghiệp khác bị cuốn vào cảnh nợ nần giắt dây lẫn nhau, như đã từng xảy ra với các doanh nghiệp quốc doanh trước đây và Nhà nước phải chi ra hàng ngàn tỉ đồng để giải quyết nhằm tránh đổ vỡ dây chuyền.

Đó là chưa kể việc cho các công ty thua lỗ nặng sáp nhập vào tổng công ty nhà nước, giao trách nhiệm cứu vớt cho các thành viên khỏe mạnh khác, đã gián tiếp làm suy yếu tiềm lực phát triển của các tổng công ty cũng như từng thành viên, gây nên bất hòa trong nội bộ.

Nguồn: http://www.vneconomy.com.vn, ngày 23/6/2006