VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

CỔNG THÔNG TIN KINH TẾ VIỆT NAM

Tin tức

Nhìn lại bức tranh kinh tế Việt Nam sau 3/4 năm

06/08/2010 - 158 Lượt xem

Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp

Điều đáng mừng nhất khi nhìn lại bức tranh kinh tế Việt Nam chặng đường vừa qua là tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng đầu năm 2005 tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,1%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10%; khu vực dịch vụ tăng 8,2%.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng đầu năm nay đạt mức tăng 4,1%, trong đó ngành nông nghiệp tăng 3,5%, chủ yếu do vụ lúa đông xuân tiếp tục được mùa, sản lượng tăng 252,7 nghìn tấn; chăn nuôi gia súc ổn định và phát triển nhanh, dịch cúm gia cầm tuy có phát sinh ở một số địa phương, nhưng ảnh hưởng không lớn như năm trước nên đàn gia cầm đã tăng trưởng. Thuỷ sản tăng mạnh trong quí III. Lâm nghiệp 9 tháng tăng nhẹ, chủ yếu do tăng sản lượng gỗ khai thác.

Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng trưởng 10%, trong đó giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp chế biến tăng 11%; công nghiệp điện nước tăng 12%; xây dựng tăng 8,9%.

Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng 8,2%, cao hơn hẳn mức tăng trưởng 7% của 9 tháng năm 2004. Trong khu vực này, các ngành có tỷ trọng lớn và thuộc lĩnh vực dịch vụ kinh doanh như thương nghiệp; khách sạn, nhà hàng; vận tải, bưu điện, du lịch đều có mức tăng cao so với mức tăng của từng ngành trong 9 tháng năm trước.

Do khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục tăng trưởng cao hơn mức tăng chung và tăng nhanh hơn các khu vực khác nên cơ cấu kinh tế ngành tiếp tục chuyển dịch theo chiều hướng tăng ở khu vực công nghiệp, xây dựng, giảm ở khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và dịch vụ.

Tổng thu ngân sách Nhà nước 9 tháng ước tính đạt 82,3% dự toán cả năm, cao hơn mức dự kiến 78,9% của 9 tháng năm trước đúng 3,4 điểm phần trăm, chủ yếu do tăng thu từ dầu thô, nhờ giá bán dầu thô trên thị trường quốc tế liên tục tăng cao.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 9 tháng đã căn bản đáp ứng nhu cầu, ước tính đạt 74,2% dự toán cả năm 2005. Bội chi ngân sách ở mức thấp so với GDP và bằng 48,9% mức bội chi dự toán cho cả năm, trong đó được bù đắp bằng nguồn vay trong nước là 68,4% và vay nước ngoài 31,6%.

Nông, lâm, thuỷ sản tăng trưởng trong khó khăn

Giá trị sản xuất khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng năm 2005 ước tính đạt 125,87 nghìn tỷ đồng, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nông nghiệp 93,61 nghìn tỷ đồng, tăng 4,3%; lâm nghiệp 4,72 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8%; thuỷ sản 27,54 nghìn tỷ đồng tăng 9,7%.

Điểm đáng chú ý nhất là hoạt động thuỷ sản, năm nay tuy gặp một số khó khăn về thời tiết và giá cả, nhưng nhờ có những giải pháp kịp thời nhằm động viên ngư dân yên tâm sản xuất và bám biển nên kết quả vẫn tăng so với năm trước. Sản lượng thuỷ sản 9 tháng năm nay ước tính đạt 2.494 nghìn tấn, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên, trong 9 tháng qua nuôi trồng thuỷ sản đã gặp không ít khó khăn: Một số tỉnh phía Bắc, Trung Nam bộ và Tây Nguyên bị hạn nặng, mực nước các hồ không đủ để thả giống; ở các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng một bộ phận diện tích nuôi vụ 1 bị nhiễm mặn, phèn.

Mặt khác, khó khăn trong xuất khẩu cá da trơn vào Mỹ và việc mở rộng diện tích nuôi ồ ạt đã làm giá thu mua cá tra, cá basa giảm nhiều so với cùng kỳ, làm cho lượng cá quá lứa ngày càng nhiều; việc quy hoạch vùng nuôi, sản xuất và kiểm dịch giống thuỷ sản, cơ sở hạ tầng cho nuôi trồng thuỷ sản còn hạn chế...

Công nghiệp vẫn dựa vào điểm mạnh cũ

Tính chung 9 tháng 2005, giá trị sản xuất công nghiệp ước tính đạt 308,6 nghìn tỷ đồng, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm 2004. Trong đó, doanh nghiệp Nhà nước tăng 9,6%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 24,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,2%.

Trong ba ngành kinh tế cấp I, giá trị sản xuất công nghiệp khai thác mỏ và khai khoáng tăng 9% so với 9 tháng năm 2004; Công nghiệp điện, khí đốt và nước tăng 14,6%; Công nghiệp chế biến tăng 17,7%, là mức tăng cao nhất so với hai ngành trên, đóng góp chính vào tăng công nghiệp cũng như tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Một số địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp lớn trong cả nước có tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng cao như Hà Nội tăng 16,1%; Hải Phòng tăng 17,6%; Hải Dương tăng 31,2%; Quảng Ninh tăng 17,9%; Đà Nẵng tăng 18,8%; Bình Dương tăng 33,8%; Đồng Nai tăng 21,7%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 13%. Riêng thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhất trong cả nước chiếm khoảng 26%, tăng 14%.

Đầu tư: Nhà nước dẫn đầu

Thực hiện vốn đầu tư phát triển 9 tháng năm 2005 theo giá thực tế ước tính đạt 226,7 nghìn tỷ đồng, bằng 75,6% kế hoạch năm. Trong tổng số, vốn Nhà nước chiếm 52,6%, vốn ngoài Nhà nước chiếm 30,2%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 17,2%.

Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách Nhà nước tập trung 9 tháng năm 2005 ước đạt 41,19 nghìn tỷ đồng, bằng 79,3% kế hoạch cả năm; trong đó các đơn vị trung ương 15,55 nghìn tỷ đồng bằng 78,1% kế hoạch năm; các đơn vị địa phương 25,65 nghìn tỷ đồng bằng 80,1% kế hoạch năm.

Thương mại, giá cả: quá phức tạp

Thị trường trong nước 9 tháng năm nay diễn biến phức tạp do ảnh hưởng của biến động giá trên thị trường thế giới, nhất là giá xăng dầu tăng mạnh đã làm tăng giá trong nước và hạn chế sức mua. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 9 tháng theo giá thực tế ước tính đạt 344,28 nghìn tỷ đồng, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố tăng giá, tổng mức tăng trên 10%.


Giá tiêu dùng tháng 9/2005 so với tháng trước tăng 0,8% là mức tăng cao nhất từ tháng 3 năm nay và cũng là mức tăng cao so với tháng 9 các năm tính từ 2001 trở lại đây. Giá 8 trong 10 phân nhóm hàng hoá và dịch vụ đều tăng với mức độ khác nhau.

Do giá xăng dầu trên thị trường thế giới và xăng dầu nhập khẩu tăng liên tục và tăng ở mức cao suốt từ đầu năm đến nay, giá nhóm phương tiện đi lại, bưu điện đã tăng ở mức đáng kể. So với cùng tháng năm trước, giá tiêu dùng tháng 9/2005 tăng 7,8%, cao hơn mức tăng 7,3% của giá tiêu dùng tháng 8.

Tổ điều hành thị trường của Bộ Thương mại nhận định, những tháng cuối năm sức mua của xã hội sẽ tăng cao hơn do khối lượng tiền để giải ngân cho các công trình xây dựng cơ bản, tăng lương cho cán bộ công chức và những người nghỉ hưu tăng.

Tổng mức lưu chuyển ngoại thương 9 tháng năm 2005 ước tính đạt 52,89 tỷ USD, tăng 19,1% so cùng kỳ năm trước. Khoảng cách giữa tốc độ tăng xuất khẩu và tốc độ tăng nhập khẩu được thu hẹp dần, do nhập khẩu có xu hướng tăng chậm hơn xuất khẩu.

Như vậy, năm nay mức nhập siêu của Việt Nam có thể không tăng nhiều so với năm ngoái, nhưng đó chỉ là sự an tâm tạm thời. Để giảm được nhập siêu một cách căn bản thì có lẽ sẽ phải mất nhiều năm nữa.

Góc nhìn của chuyên gia với số liệu thống kê 9 tháng đầu năm

Theo các chuyên gia kinh tế hàng đầu Việt Nam ở Bộ Thương mại, Bộ Kế hoạch đầu tư và Bộ Tài chính, các doanh nghiệp Việt Nam - nhân vật chính trong nền kinh tế quốc dân - vẫn còn nhiều hạn chế khiến việc sản xuất kinh doanh chưa đạt hết tiềm năng.

Đó là không đủ kỹ năng để cạnh tranh hiệu quả trên thị trường với mức tự do hoá ngày càng tăng; thiếu kế hoạch cụ thể dựa trên năng lực và cơ hội xuất khẩu của chính mình nên thường đầu tư mang tính tự phát; ít quan tâm đến chiến lược kinh doanh lâu dài và định hướng phát triển ngành nghề cũng như nhu cầu của thị trường; mức vốn đầu tư lại khá thấp và nhỏ lẻ nên không có đủ khả năng ứng dụng công nghệ mới hay đầu tư vào máy móc thiết bị hiện đại.

Đã thế, việc đầu tư lại dàn trải, cơ cấu chưa hợp lý nên đã không tạo được mũi nhọn trong chiến lược xuất khẩu của đất nước. Việc đầu tư của doanh nghiệp nhiều lúc chưa hiệu quả do thiếu thông tin về thị trường đầu vào nên chưa thực sự nắm bắt được những cơ hội kinh doanh tốt và dẫn tới những quyết định đầu tư thiếu hiệu quả.

Những hạn chế kể trên đã kiềm chế khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ Việt Nam trên thị trường thế giới. Bên cạnh đó, nước ta lại thiếu một chiến lược xuất khẩu quốc gia dựa trên cơ sở đánh giá lại các tiềm năng và yếu tố cạnh tranh của quốc gia. Do vậy, việc xây dựng một chiến lược xuất khẩu quốc gia mang tính thực tế cao là một yêu cầu cấp bách, cần được ưu tiên thực hiện.

Điều đó càng cần thiết phải triển khai với tốc độ nhanh hơn và quyết tâm mạnh hơn nữa, nhất là khi báo cáo điều tra quốc tế mới nhất cho thấy một thực tế đáng lo ngại: Việt Nam tụt 4 bậc, từ vị trí 77 năm 2004 xuống vị trí 81 năm 2005 về tính cạnh tranh của nền kinh tế.

Nhật Vy

Nguồn: http://www.vietnammet.vn, ngày 30/9/2005