VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

CỔNG THÔNG TIN KINH TẾ VIỆT NAM

Tin nổi bật

Phát triển bền vững con người Việt Nam: Thách thức và giải pháp

11/12/2023 - 155 Lượt xem

Nếu ngay bây giờ chúng ta xây dựng một Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam bền vững giai đoạn 2025 - 2045 thì Việt Nam có thể vừa đạt mục tiêu là nước thu nhập cao vào năm 2045, vừa đạt mục tiêu là quốc gia có nhân lực phát triển bền vững thời kỳ sau năm 2045 đến cuối thế kỷ XXI. Không có một chiến lược phát triển con người Việt Nam bền vững như vậy thì áp lực tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn tới suy thoái lao động và dân số, nguy cơ tự tiêu vong sau khoảng 500 năm luôn hiện hữu...

Phát triển bền vững về con người bao gồm: lao động và dân số bền vững; nâng cao sức khỏe và tầm vóc; nuôi dưỡng và phát huy văn hóa dân tộc; không ngừng nâng cao trình độ văn hóa và năng lực nghề nghiệp; công dân hạnh phúc và gia đình hạnh phúc. Bài viết này chủ yếu tập trung vào lao động và dân số bền vững.

TỔNG TỶ SUẤT SINH VÀ TỔNG TỶ SUẤT SINH THAY THẾ  

Theo quy luật tự nhiên, tỷ lệ trẻ nam và nữ mới sinh trong một chu kỳ thời gian (1 năm) ở một cộng đồng dân cư (dân tộc, đất nước) là khoảng 51% nam, 49% nữ (104-106 trai/100 gái). Do khả năng sinh tồn của các bé trai yếu hơn, nên một số mất trước khi trưởng thành. Kết quả là ở tuổi 18 trở lên, cùng năm sinh có số nam và nữ gần bằng nhau (tỷ lệ 50% nam và 50% nữ). Số con bình quân mà một phụ nữ của đất nước sinh ra trong đời khi họ kết hôn (hoặc ở với nhau như vợ chồng) được gọi là tổng tỷ suất sinh (TTSS).

Phát triển bền vững con người Việt Nam: Thách thức và giải pháp - Ảnh 1

GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân, Đại biểu Quốc hội khóa XV. Ảnh: Quang Phúc.

Nếu người phụ nữ sinh bình quân trong độ tuổi sinh con được 2,1 con, thì khi các cháu trưởng thành sẽ có 2 người còn sống khỏe mạnh (bình quân trong 2,1 cháu được sinh ra, có 0,1 cháu mất trước tuổi trưởng thành). Tức là 2 người con này sẽ thay cha, mẹ của chúng tiếp tục lao động khi cha, mẹ không còn khả năng lao động và khi cha, mẹ chết sẽ có 2 người con này thay thế, làm cho dân số ổn định. Vì vậy mức sinh bình quân toàn xã hội 2,1 con/phụ nữ được gọi là TTSS thay thế.

Nếu TTSS lớn hơn 2,1 thì số lao động xã hội sẽ tăng lên và dân số sẽ tăng lên. Còn nếu TTSS dưới 2,1 kéo dài thì số lao động trong xã hội sẽ giảm và sau một thời gian dân số cũng giảm (không tính người nhập cư làm tăng dân số). Tức là lúc này đất nước không có khả năng tái tạo đầy đủ con người của mình, sự phát triển đất nước là không bền vững về con người.

Với một đất nước, nếu TTSS thấp dưới TTSS thay thế kéo dài và duy trì ở mức thấp nhiều năm, sẽ gây ra suy giảm số người trong tuổi lao động, thiếu lao động ngày càng nghiêm trọng, làm suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, thậm chí gây ra trì trệ tăng trưởng và thu ngân sách.

Diễn biến TTSS ở Việt Nam giai đoạn 1960 - 2010 phù hợp với chương trình kế hoạch hóa gia đình quốc gia, nhằm giảm tỷ lệ sinh ở Việt Nam (hình1); tuy nhiên, từ năm 2016, giữ vững TTSS thay thế đã trở thành mục tiêu mới của chính sách dân số Việt Nam.

Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới có Nghị quyết của Đảng Cộng sản về công tác dân số trong tình hình mới (Nghị quyết 21-NQ/TW năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII) và Chiến lược phát triển dân số đến năm 2030 của Chính phủ (năm 2019) với mục tiêu đảm bảo vững chắc TTSS thay thế (2,1), song kết quả thực hiện Nghị quyết và Chiến lược này đến nay rất đáng lo ngại.

Mặc dù Nghị quyết 21-NQ/TW ngày 15/10/2017 về công tác dân số trong tình hình mới đã xác định một giải pháp căn bản để đảm bảo vững chắc TTSS thay thế ở Việt Nam là các địa phương có TTSS cao hơn (trên) TTSS thay thế thì phải giảm TTSS, các địa phương có TTSS thấp hơn (dưới) TTSS thay thế thì phải tăng TTSS, còn các địa phương có TTSS bằng TTSS thay thế thì phải ổn định TTSS, song thực tế đang diễn ra ngược lại.

Đó là 3 vùng (Trung du và miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung) có TTSS bằng hoặc trên TTSS thay thế thì lại tiếp tục tăng TTSS. Trong khi đó, 2 vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long có TTSS dưới TTSS thay thế lại tiếp tục giảm TTSS (bảng 1). Trong 19 tỉnh, thành phố của Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, chỉ có Bình Phước là có TTSS (2,29) cao hơn TTSS thay thế, còn tất cả 18 tỉnh, thành phố còn lại đều có TTSS dưới TTSS thay thế. Tây Nguyên có TTSS (2,65) cao nhất cả nước năm 2009 thì giảm, song vẫn còn khá cao, trên TTSS thay thế (2,36) (bảng 1).

Điều này chứng tỏ mục tiêu điều chỉnh TTSS ở 5/6 vùng cả nước không đạt được. Nếu không có TTSS cao ở 4/6 vùng bù cho TTSS thấp ở 2/6 vùng thì đất nước ta đã không giữ được TTSS thay thế suốt 15 năm qua (2009 - 2023) (hình 1).

22 TỈNH, THÀNH PHỐ (35%) ĐÃ TRỞ THÀNH HỐ ĐEN DÂN SỐ

Nếu từ nay (năm 2023) đến năm 2030 giảm được TTSS ở 4/6 vùng có TTSS cao theo yêu cầu của Nghị quyết 21-NQ/TW mà không nâng được TTSS của 2/6 vùng có TTSS thấp thì Việt Nam chắc chắn sẽ không duy trì được TTSS thay thế vào năm 2030 và các năm sau.

Thực tế của Nhật Bản và thống kê trên thế giới đã chỉ rõ, khi các nước chuyển từ thu nhập trung bình thấp lên thu nhập trung bình cao thì TTSS giảm từ trên TTSS thay thế xuống dưới TTSS thay thế, không phải vì người dân nghèo đi, đất nước nghèo đi, mà vì các điều kiện để có một gia đình hạnh phúc không đảm bảo, có gia đình và nuôi con trở thành gánh nặng tài chính và tinh thần, c ản trở phát triển nghề nghiệp, nên tỷ lệ người trưởng thành muốn kết hôn ngày càng giảm, số cặp vợ chồng muốn có con ngày càng giảm. Một đất nước như vậy (TTSS thấp dưới TTSS thay thế kéo dài nhiều năm) là một hố đen dân số: lao động và dân số ngày càng teo lại.

Thực tế cách giải quyết của hầu hết các nước hiện nay trước tình trạng TTSS thấp dưới TTSS thay thế và thiếu lao động kéo dài là không thay đổi các chính sách xã hội, không thay đổi các quy định về nghĩa vụ của các doanh nghiệp trong việc hỗ trợ các vợ, chồng có con và không tuyên truyền một cách đồng bộ, đủ mạnh về ý nghĩa quan trọng của gia đình với bảo tồn nòi giống với phát triển bền vững của dân tộc để thay đổi được nhận thức và ý chí của người trưởng thành trong việc lập gia đình và có con, mà chủ yếu là nhập cư từ các nước nghèo hơn.

Về tổng thể, việc này cũng đang diễn ra ở Việt Nam (các tỉnh, thành phố có TTSS dưới TTSS thay thế bù đắp thiếu hụt lao động bằng lao động nhập cư từ các tỉnh, thành phố khác), nên tình hình TTSS thấp ở 18 tỉnh, thành phố miền Nam trong 15 năm qua không được cải thiện mà tiếp tục xấu đi (bảng 1). Hơn nữa, ngoài 18 tỉnh, thành này thì gần đây thêm 4 tỉnh (Khánh Hòa, Đà Nẵng, Bình Định, Bình Thuận) có TTSS dưới TTSS thay thế. Như vậy hiện nay, cả nước có 22 tỉnh, thành phố có TTSS dưới 2,03 với dân số của 22 tỉnh, thành phố này là 40,12 triệu người, bằng 40,5% dân số cả nước. Tức là trong 63 tỉnh thành của Việt Nam, 22 tỉnh, thành phố (35%) đã trở thành hố đen dân số ở các mức khác nhau.

ĐỐI MẶT VỚI 4 THÁCH THỨC LỚN

Thực tế biến động TTSS ở Việt Nam hiện nay đang đặt ra 4 thách thức rất lớn cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội bền vững.

Thách thức thứ nhất: nguy cơ không đạt được mục tiêu đảm bảo vững chắc TTSS thay thế từ nay đến năm 2030.

Tuy về tổng thể bình quân 20 năm qua TTSS cả nước giữ được xấp xỉ TTSS thay thế (2,08/2,1), song việc đã xuất hiện 22 tỉnh, thành phố là hố đen dân số với 40% dân số Việt Nam là rất đáng lo ngại. Theo Liên hợp quốc (2022), xu hướng thế giới các nước là hố đen dân số sẽ ngày càng tăng, làm cho TTSS thế giới giảm từ 2,7 (năm 2000) xuống còn 2,3 (hiện nay) và dự báo năm 2034 là 2,1, năm 2100 là 1,66.

Ở Việt Nam, tình hình đang xấu đi theo chiều hướng này. Năm 2021, TTSS là khoảng 2,1, song năm 2022 đã giảm còn 2,01 (Tổng cục Thống kê, 2023). TTSS của các vùng: Trung du và miền núi phía Bắc năm 2021 là 2,43; năm 2022 giảm còn 2,4; Đồng bằng sông Hồng giảm từ 2,37 xuống 2,17; Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung giảm từ 2,32 xuống 2,29; Tây Nguyên giảm từ 2,36 xuống 2,31; Đông Nam Bộ đáng lẽ phải tăng lại giảm từ 1,61 xuống 1,47 và Tây Nam Bộ đáng lẽ phải tăng lại giảm từ 1,82 xuống 1,61.

Ngoài 22 tỉnh, thành phố đang là hố đen về dân số, đã xuất hiện 3 ứng viên hố đen dân số mới: Lâm Đồng với TTSS = 2,06, Bắc Kạn với TTSS = 2,07, Quảng Nam với TTSS = 2,09.

Hiện nay GDP/người của Việt Nam khoảng 4.200 USD, tức là Việt Nam sắp chuyển từ nước thu nhập trung bình thấp sang nước thu nhập trung bình cao (ngưỡng thu nhập trung bình cao theo WB năm 2022 là 4.465 USD), theo thống kê thế giới, đây chính là giai đoạn TTSS chuyển từ trên TTSS thay thế thành TTSS dưới TTSS thay thế. Năm 2021, TTSS của các nước thu nhập trung bình thấp trên thế giới là 2,6, còn TTSS của các nước thu nhập trung bình cao là 1,6.

Hiện nay TTSS của Việt Nam là 2,08, GDP/người là 4.200 USD, do đó có thể dự báo là trong khoảng thời gian từ năm 2025 – 2027, TTSS của Việt Nam sẽ giảm xuống dưới 2,0 và tiếp tục giảm sau đó, nếu các chính sách về lao động, gia đình, phát triển đô thị vẫn như hiện nay. Mục tiêu đảm bảo vững chắc TTSS thay thế từ nay đến 2030 sẽ khó đạt được.

Thách thức thứ hai: diễn biến bất thường của TTSS ở Đồng bằng sông Cửu Long cần được nghiên cứu và khắc phục nhanh chóng.

Xu hướng cả nước và thế giới là TTSS vùng đô thị thấp hơn nông thôn (năm 2021, TTSS đô thị Việt Nam là 1,64, TTSS nông thôn là 2,4) (bảng 2), nhưng các tỉnh Tây Nam Bộ, vùng cơ bản là nông thôn, lại có TTSS = 1,61 (năm 2022) thấp hơn TTSS của các đô thị cả nước (1,64). Đây là điều bất thường và bất lợi cho sự phát triển của vùng Tây Nam Bộ và cả nước nói chung mà đến nay chưa có các nghiên cứu nào lý giải việc này.

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng nông nghiệp có diện tích, sản lượng hàng hóa và giá trị hàng hóa nông nghiệp lớn nhất cả nước, song với TTSS = 1,61, thấp xa TTSS thay thế, không thể tái tạo được con người cho vùng đất này, nếu phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ mới rất có thể sẽ thiếu lao động.

Ở Việt Nam hiện nay, với TTSS đô thị là 1,64 (bảng 2) thì các đô thị là các hố đen về dân số, còn các vùng nông thôn với TTSS = 2,4 là các cánh đồng xanh tốt về dân số, là “hậu phương” sức lao động cho đô thị. Tuy nhiên, vùng Đồng bằng sông Cửu Long lại là hố đen dân số với TTSS = 1,61. Do đó, cần có nghiên cứu sâu về nguyên nhân TTSS rất thấp của vùng Đồng bằng sông Cửu Long để vừa làm cho vùng này không còn là hố đen dân số, phát triển bền vững dựa trên lao động, nông nghiệp, dịch vụ, công nghiệp, kinh tế biển, kinh tế năng lượng; vừa góp phần làm cho TTSS của cả nước giữ vững mức TTSS thay thế.

Thách thức thứ ba: quá trình đô thị hóa không định hướng phát triển gia đình và phát triển con người bền vững là một nguyên nhân chính của TTSS giảm dưới TTSS thay thế.

Ở Việt Nam, năm 1989 có 19,4% dân số sống ở đô thị, năm 2000 là gần 24%, năm 2010 là 30,5% và năm 2022 là 41%. Mục tiêu phát triển đô thị của Việt Nam là năm 2025 có 45% và 2030 có ít nhất 50% dân số sống ở các đô thị (theo Lưu Đức Hải (2014), “Chiến lược đô thị hóa Việt Nam và những chính sách liên quan đến cải tạo các khu đô thị cũ”).

Tuy nhiên, diễn biến TTSS ở các đô thị và nông thôn hơn 20 năm qua (bảng 2) đặt ra yêu cầu phải bổ sung mục tiêu mới cho quá trình đô thị hóa sắp tới. Bảng 2 cho thấy, TTSS ở các đô thị đã hơn 20 năm luôn thấp hơn TTSS thay thế, còn TTSS ở nông thôn luôn cao hơn TTSS thay thế. TTSS của cả nước luôn nằm giữa hai TTSS này.

Kết quả tính toán ở bảng 2 cho thấy TTSS của Việt Nam năm 2025 khoảng 2,06 và năm 2030 là khoảng 1,95, như vậy, nếu không có các thay đổi mạnh mẽ chính sách của Nhà nước, điều kiện làm việc của người lao động, quy hoạch đô thị để gìn giữ và phát triển gia đình, qua đó làm tăng mong muốn lập gia đình và có con của người trong tuổi lập gia đình ở Việt Nam thời kỳ 2024 – 2030, thì TTSS của Việt Nam sẽ xuống dưới TTSS thay thế (dưới 2,0) trong giai đoạn 2025 – 2027 (bảng 2). Mục tiêu chiến lược phát triển dân số Việt Nam đến năm 2030 (đảm bảo vững chắc TTSS thay thế từ năm 2019 đến năm 2030) không đạt được.

Từ bảng 2 và công thức (1) cho thấy: vì TTSS đô thị luôn dưới TTSS thay thế, nên khi tỷ lệ đô thị hóa càng cao thì TTSS cả nước sẽ càng thấp, tức là một khi các đô thị lại chính là các hố đen dân số thì càng đô thị hóa, TTSS cả nước càng giảm và sẽ giảm bền vững dưới TTSS thay thế.

Do đó để TTSS của cả nước không giảm dưới TTSS thay thế thì các đô thị không thể là các hố đen dân số với TTSS < 2,0. Đây chính là yêu cầu mới đặt ra cho mục tiêu quy hoạch đô thị và chính sách phát triển đô thị Việt Nam sau năm 2025.

Thách thức thứ tư: dự báo thô về dân số dài hạn của Việt Nam - nguy cơ tự tiêu vong sau 500 năm.

Dân số tương lai của một nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

  1. Quy mô dân số ban đầu (hiện tại).

  2. TTSS các vùng và toàn quốc.

  3. Cơ cấu lứa tuổi, giới tính của dân số quốc gia.

  4. Chính sách dân số hiện tại và tương lai của chính phủ và chính quyền địa phương (định hướng mức sinh có lợi nhất cho đất nước, chính sách hỗ trợ gia đình và trẻ em).

  5. Quy hoạch và phát triển đô thị thân thiện thế nào với phát triển gia đình hạnh phúc.

  6. Chính sách và quy định của các doanh nghiệp về điều kiện lao động và trả lương, đào tạo tiếp tục,…

  7. Truyền thống văn hóa về vai trò của gia đình, vai trò của vợ và chồng.

  8. Thu nhập của người lao động trong tương quan với mức sống tối thiểu.

  9. Các điều kiện và chi phí cho việc gửi con đi học, khám chữa bệnh, nhà ở, đi lại,…

  10. Chính sách về người nhập cư của Chính phủ và dự báo tình hình nhập cư tương lai.

  11. Dự báo về phát triển kinh tế - xã hội của các vùng và cả nước.

  12. Trình độ văn hóa và đào tạo nghề của phụ nữ ở các địa bàn.

  13. Sự hỗ trợ của Chính phủ, chính quyền địa phương và khả năng tiếp cận các phương tiện phòng tránh thai đối với phụ nữ và đàn ông.

  14. Tuổi thọ bình quân của người dân ở các vùng và toàn quốc.

  15. Tỷ lệ người chết ở các vùng và toàn quốc.

  16. Tỷ lệ giới tính khi sinh ở các vùng và toàn quốc.

Như vậy, dân số tương lai của một nước phụ thuộc ít nhất vào 16 loại yếu tố, trong đó nhiều yếu tố rất khó lượng hóa tác động của nó tới TTSS và dân số (truyền thống văn hóa về gia đình, cuộc sống gia đình; quy hoạch và phát triển đô thị; chính sách dân số tương lai…). Đến nay chỉ có 2 nước (Nhật Bản và Hàn Quốc) đã công bố dự báo dân số sau khoảng 700 năm đến 1.000 năm.

Trên thế giới, có 3 tổ chức đã công bố dự báo dân số các nước trên thế giới (Cục Dân số, Tổng cục Kinh tế và xã hội, thuộc Ban thư ký của Liên hợp quốc (công bố từ những năm 1950); Viện Quốc tế phân tích các hệ thống ứng dụng của Trung tâm Wittgenstein, Áo (công bố từ những năm 1990) và Viện Đo lường và Đánh giá sức khỏe (IHME), Đại học Washington, Mỹ (công bố lần đầu năm 2020). Ba tổ chức này chỉ công bố dự báo dân số đến năm 2100.

Trong 3 tổ chức này, phương pháp dự báo của Cục Dân số, Liên hợp quốc, là có hạn chế lớn nhất, vì giả định là TTSS của các nước có TTSS dưới TTSS thay thế sẽ tự động tăng lên và đạt mức khoảng 1,75 trong tương lai (năm 2100 hoặc sau đó), trong khi TTSS của một nước phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và phải được dự báo có cơ sở thực tiễn và khoa học, chứ không phải lại giả định là TTSS của hầu hết các nước có TTSS<TTSS thay thế sẽ tự động tăng lên và hội tụ quanh giá trị 1,75 mà không có bất cứ lý giải nào. Viện Đo lường và Đánh giá sức khỏe đã dự báo TTSS của Việt Nam năm 2100 khoảng 1,5 (1,39) và dân số khoảng 73 triệu năm 2100, không dự báo cho giai đoạn sau 2100.

Trong dự báo của Viện Đo lường và Đánh giá sức khỏe không xem xét khả năng thay đổi các chính sách của Chính phủ Việt Nam liên quan định hướng phát triển dân số, hỗ trợ gia đình và trẻ em từ năm 2020 đến năm 2100. Xuất phát từ thực tế là Nhật Bản và Hàn Quốc đã dự báo dân số của họ đến năm 2750 và 3000, đã có dự báo sơ bộ TTSS và dân số Việt Nam đến năm 2100, để hình dung hậu quả của việc TTSS dưới TTSS thay thế ở Việt Nam sau năm 2027, rất cần một dự báo thô, một ước lượng dân số Việt Nam đến năm 3000.

DỰ BÁO THÔ DÂN SỐ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 3000

Do dân số phụ thuộc vào 16 yếu tố và không thể dự báo các yếu tố này từ sau năm 2027 đến năm 3000 nên chúng tôi đã xây dựng một phương pháp dự báo thô dân số Việt Nam. Mục đích là không phải để biết tương đối chính xác dân số sau hàng trăm năm, mà là nhận ra xu hướng biến đổi dân số, với các giả định về TTSS có thể coi là “hợp lý” với Việt Nam, khi không có thay đổi chính sách của Chính phủ về phát triển dân số so với giai đoạn 2015 - 2023 và tham khảo sự thay đổi TTSS của Nhật Bản và Hàn Quốc giai đoạn 1970 - 2100. Theo đó, TTSS của Việt Nam năm 2100, 2200, 2300, 2400, và 2500 - 3000 được dự báo là 1,5; 1,4; 1,3 và 1,25 (bảng 3).

Kết quả dự báo thô dân số Việt Nam, với các giả định về TTSS của Việt Nam, có so sánh với TTSS của Nhật Bản, Hàn Quốc giai đoạn 2020 - 2100 và dự báo dân số của hai nước do chính các cơ quan khoa học của hai nước thực hiện và công bố, được thể hiện ở bảng 3 và hình 2. Dân số của 3 nước giai đoạn 1800 - 2020 cũng được thể hiện ở bảng 3 và hình 2.

Số liệu dân số năm 2100, bên cạnh các số liệu do Nhật Bản và Hàn Quốc dự báo (50 triệu và 20 triệu người) và số liệu dân số Việt Nam do chúng tôi dự báo thô (90,5 triệu người), trong bảng 3 còn ghi số liệu do Viện Đo lường và Đánh giá sức khỏe dự báo (60 triệu, 27 triệu và 73 triệu người).

Năm 1800, dân số Việt Nam là khoảng 6 triệu người, Hàn Quốc khoảng 9,4 triệu người và Nhật Bản là 30 triệu người. Trong 110 năm (1900 - 2010), dân số Nhật bản tăng vọt từ 44 triệu, lên mức cao nhất là 128 triệu (gấp 2,9 lần), Hàn Quốc tăng từ 9,9 triệu lên mức cao nhất 51,8 triệu (gấp 5,2 lần) trong 120 năm (1900 - 2020), còn Việt Nam từ 1900 - 2050 (150 năm) dân số tăng từ 12 triệu lên mức cao nhất 108 triệu (gấp 9 lần).

Năm 2050, dân số Nhật Bản (100 triệu người) và dân số Việt Nam là tương đương (108 triệu người) (bảng 3 và hình 2). Do TTSS của Việt Nam (1,85) lớn hơn đáng kể TTSS của Nhật Bản (1,36) nên dân số Việt Nam giảm chậm hơn đáng kể so với Nhật Bản. Năm 2100, 2200 và 2300, dân số của Việt Nam và Nhật Bản là: 90,5 triệu và 50 triệu; 47,5 triệu và 10 triệu; 21,6 triệu và 2,6 triệu người (bằng 2% dân số Nhật Bản lúc cao nhất 128 triệu người năm 2010).

Đến năm 2500, dân số của Việt Nam là 3,6 triệu người (bằng 3% dân số Việt Nam cao nhất 108 triệu người năm 2050) và của Nhật Bản là 0,25 triệu người. Năm 3000, dân số Việt Nam chỉ còn khoảng 32.000 người và dân số Nhật Bản chỉ còn khoảng 62 người (bảng 3 và hình 2).

Như vậy, nếu chính sách dân số thực tế của Việt Nam sau năm 2020 không đổi so với thời kỳ 2015-2020, thì một cách sơ bộ có thể dự báo thô: TTSS của Việt Nam sẽ giảm dần từ 2,08 năm 2020 xuống 1,5 vào năm 2100.

Nếu TTSS tiếp tục giảm từ 1,5 xuống 1,25 sau 500 năm, thì năm 2500 (Hàn Quốc đã đạt giá trị TTSS = 1,24 năm 2100, trước Việt Nam 400 năm, Nhật Bản đã đạt giá trị TTSS = 1,32 từ 2100) Việt Nam không thể tránh được nguy cơ tự tiêu vong như Nhật Bản và Hàn Quốc (dân số Việt Nam năm 2500 giảm 97% so với lúc cao nhất năm 2050) (hình 2).

Do TTSS của Việt Nam năm 2020 (2,08) cao hơn đáng kể TTSS của Nhật Bản (1,33) và Hàn Quốc (0,84) nên năm 2500 dân số Việt Nam ước khoảng 3,6 triệu người (dân số Nhật Bản là khoảng 0,25 triệu người, Hàn Quốc khoảng 0,5 triệu người), năm 2700 dân số Việt Nam còn khoảng 0,5 triệu người và năm 3000 khoảng 32.000 người (Nhật Bản 62 người, Hàn Quốc 0 người) (bảng 3, hình 2).

"Nếu chúng ta không thay đổi được nhận thức và xây dựng chính sách thúc đẩy và giám sát phát triển xã hội theo hướng coi gia đình hạnh phúc, người dân hạnh phúc, phát triển bền vững về con người là mục tiêu ngang bằng, thậm chí cao hơn mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao nhất có thể, thì Việt Nam tất yếu đi theo con đường mà tất cả nước phát triển đã và đang đi qua: càng giàu càng mất khả năng duy trì bền vững nòi giống, tăng trưởng kinh tế đi kèm với suy thoái lao động và dân số, tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội là không bền vững".

GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân, Đại biểu Quốc hội khóa XV.

An ninh con người - đảm bảo nguồn lực quan trọng nhất là con người Việt Nam về số lượng và chất lượng cho đất nước phát triển - phải dựa trên phát triển bền vững con người Việt Nam.

Khi lao động và dân số suy thoái, nguy cơ tự tiêu vong thành hiện thực, không có giải pháp nào thay thế được lâu dài. Việc nhập cư để bù đắp thiếu lao động như các nước châu Âu và Bắc Mỹ thực hiện 50 năm qua sẽ bất khả thi sau năm 2055, vì từ sau năm 2034 thế giới sẽ là hố đen dân số và sau năm 2055 là suy thoái lao động toàn cầu. Như dự báo thô dân số Việt Nam đã chỉ ra (hình 2) nếu sau năm 2025 TTSS của Việt Nam giảm dưới TTSS thay thế và không có giải pháp để duy trì được bền vững TTSS ở mức TTSS thay thế thì đến năm 2100, dân số sẽ giảm khoảng 17 triệu người và đến năm 2150 giảm khoảng 39 triệu người (bảng 3).

Không có nguồn lao động nào ở các nước khác sẵn sàng để bù đắp cho thiếu hụt lao động ở Việt Nam với quy mô như vậy. Mất an ninh con người là vấn đề bên trong của đất nước, phải được nhận thức sớm, phòng người kịp thời, hiệu quả từ xa. Sau năm 2055 sẽ không có sự giúp đỡ nào từ bên ngoài (người nhập cư) để giải quyết vấn đề này, vì thế giới bước vào thời kỳ suy thoái lao động.

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CON NGƯỜI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2025 – 2045

Từ xu hướng phát triển không bền vững về con người của thế giới năm 1970 - 2020 - 2034 - 2064 - 2100, từ phân tích bước đầu nguyên nhân của hiện tượng TTSS thấp dưới TTSS thay thế 100 năm và đối diện nguy cơ tự tiêu vong sau 300 năm của Nhật Bản, từ triển vọng Nghị quyết 21-NQ/TW năm 2017 và Chiến lược phát triển dân số Việt Nam đến năm 2030 không đạt được mục tiêu cơ bản “đảm bảo vững chắc TTSS thay thế”, từ dự báo thô dân số Việt Nam giai đoạn 2020 - 3000 và nguy cơ tự tiêu vong sau 500 năm (mất 97% dân số), từ truyền thống văn hóa coi trọng gia đình, hạnh phúc gia đình của người Việt Nam, chúng ta cần xây dựng Chiến lược phát triển con người Việt Nam bền vững giai đoạn 2025 - 2045 với 5 quan điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, phát triển bền vững con người Việt Nam là nền tảng quan trọng hàng dầu để phát triển bền vững đất nước.

Còn con người Việt Nam thì mới còn văn hóa Việt Nam, còn đất nước Việt Nam. Nếu đất nước Việt Nam không tái tạo được con người Việt Nam thì đất nước sẽ tiêu vong. Vì vậy, những chính sách nào của Nhà nước, chính quyền địa phương, các quy định nào của các doanh nghiệp, tổ chức cản trở, gây thiệt hại cho việc phát triển con người bền vững cần phải được điều chỉnh hoặc loại bỏ ngay.

CẦN THỐNG NHẤT VỀ VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH

Thứ hai, để phương thức tăng trưởng kinh tế của đất nước không dẫn tới suy thoái lao động và dân số, cần có sự thống nhất cao giữa Chính phủ, các doanh nghiệp và toàn xã hội về vai trò không thể thay thế của gia đình và các điều kiện cần thiết để gia đình hạnh phúc, đảm bảo vững chắc TTSS thay thế.

Tái tạo con người qua phát triển gia đình hạnh phúc và phát triển kinh tế là quan hệ 2 chiều, có sự chi phối của chính sách phát triển quốc gia, các địa phương và hoạt động của doanh nghiệp. Có con người, có lao động đủ số lượng với chất lượng không ngừng nâng cao thì mới có điều kiện phát triển kinh tế bền vững trong cơ chế cạnh tranh kinh tế toàn cầu. Phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện để xây dựng gia đình hạnh phúc, công dân hạnh phúc.

Thực tế ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam (TP.Hồ Chí Minh) đã chỉ rõ: không phải năng suất lao động cao, không phải GDP/người cao thì đương nhiên gia đình có điều kiện đủ để là gia đình hạnh phúc, để sinh đủ 2 con là hạnh phúc. Thực tế toàn cầu 50 năm qua là: GDP/người càng tăng thì nguyện vọng người lao động kết hôn và sinh con càng giảm, đi tới xu thế: sau năm 2034, cả thế giới không đảm bảo TTSS thay thế; sau năm 2055, suy thoái lao động toàn cầu; sau năm 2064, suy thoái dân số toàn cầu, cả thế giới là hố đen dân số.

Bài học từ thực tế Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam là: cần đảm bảo khi chính phủ thiết kế mục tiêu và chính sách phát triển kinh tế, khi các doanh nghiệp quy định chế độ tiền lương và điều kiện lao động, khi quy hoạch đô thị về giao thông, giáo dục, y tế, nhà ở, dịch vụ, thì tổng hòa tác dụng của các chính sách, mục tiêu phát triển của Chính phủ, chính quyền địa phương, các quy định của doanh nghiệp, tổ chức và điều kiện sống thực tế của người lao động ở lứa tuổi 22 - 35 không tạo áp lực buộc họ phải lựa chọn và quyết định: muốn duy trì việc làm có thu nhập cần thiết, đủ sống thì phải từ bỏ nguyện vọng có gia đình, hoặc có gia đình thì phải từ bỏ nguyện vọng có 2 con hoặc 1 con. Chỉ khi đó nguyện vọng có gia đình, có 2 con mới có thể trở thành hiện thực với đại đa số người lao động, TTSS được duy trì ở mức TTSS thay thế, đất nước mới phát triển bền vững về con người.

Thứ ba, các chính sách của Chính phủ để phòng ngừa suy thoái lao động, suy thoái dân số phải được ban hành từ sớm, từ xa và đủ mạnh.

Phân tích diễn biến TTSS và dân số của Nhật Bản hơn 50 năm qua (1970 - 2023), các chính sách, chương trình hỗ trợ gia đình và sinh con của chính phủ hơn 30 năm (1990 2023), có thể rút ra 2 bài học:

Bài học 1: do việc thiếu lao động chỉ xuất hiện sau khoảng 20 năm TTSS đã thấp dưới TTSS thay thế, nên nhiều năm sau khi TTSS đã giảm dưới TTSS thay thế, chính phủ, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp, tổ chức không có các giải pháp kịp thời, đủ mạnh để đưa TTSS trở lại TTSS thay thế.

Bài học 2: khi các chính sách của Chính phủ hỗ trợ gia đình và trẻ em để khuyến khích kết hôn, sinh 2 con trở lên, làm tăng TTSS có tác dụng thực tế thấp, không tăng được TTSS cơ bản, lâu dài đã kéo dài hơn 20 năm (1990 - 2015), thì một bộ phận người dân sẽ thay đổi căn bản quan niệm về gia đình và sinh con “kết hôn và có con là bất lợi cho bản thân, không cần thiết”.

Khi các chương trình hỗ trợ kết hôn và sinh con của Chính phủ ít tác dụng kéo dài hơn 20 năm, cùng với quan điểm xã hội chính thống “kết hôn và sinh con là quyền tự do cá nhân, không liên quan đến nghĩa vụ công dân với Tổ quốc” và thực tế kinh tế trì trệ kéo dài gần 30 năm (1975 - 2023) thì một bộ phận dân cư ngày càng tăng sẽ thay đổi quan niệm của họ về gia đình: từ “gia đình là có ích, có gia đình và có con là hạnh phúc” thành “kết hôn và có con là bất lợi cho bản thân, không cần thiết”. Khi sự thay đổi nhận thức về gia đình như vậy diễn ra, ở Nhật Bản là sau năm 2015, thì việc đảo ngược nhận thức này sẽ rất khó khăn, TTSS tiếp tục tự duy trì ở một mức rất thấp. Nhật Bản đã dự báo, TTSS sẽ ở mức 1,36 50 năm nữa (2020 - 2070). Còn theo dự báo của Viện Đo lường và Đánh giá Sức khỏe (IHME, Đại học Washington, Mỹ) là 80 năm nữa (2020 - 2100).

Thứ tư, nếu tiền lương tối thiểu của người lao động không đủ để nuôi 2 người thì không thể có phát triển nhân lực bền vững.

Để đất nước có nhân lực bền vững thì TTSS phải bằng hoặc lớn hơn TTSS thay thế. Như vậy một gia đình có 2 người đi làm phải có thu nhập tối thiểu đủ nuôi được 4 người, thì lúc đó họ mới có thể nuôi được 2 con. Thực tế ở TP. Hồ Chí Minh và nhiều đô thị ở Việt Nam đã chỉ rõ: lương của người lao động, nhất là công nhân không đủ nuôi 2 người nên đa số gia đình không thể nuôi được 2 con, dù họ muốn. Kết quả là TTSS ở TP. Hồ Chí Minh đã hơn 20 năm dưới 2,1 và những năm gần đây chỉ ở mức 1,4, còn TTSS của các đô thị Việt Nam cũng hơn 20 năm dưới TTSS thay thế (bảng 2) và TTSS năm 2021 là 1,64.

Cho đến nay, gần 50 năm sau thống nhất đất nước, Chính phủ vẫn không công bố mức sống tối thiểu được xác định như thế nào và các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước không công bố tiền lương tối thiểu trên cơ sở các quy định về cách tính mức sống tối thiểu của Nhà nước. Nếu điều này không được khắc phục thì không có tiền đề để phát triển con người bền vững ở Việt Nam sau năm 2025.

Thứ năm, cần làm rõ và khẳng định: kết hôn và sinh con là quyền tự do cá nhân. Người Việt Nam yêu nước có trách nhiệm đóng góp cho đất nước phát triển bền vững.

Bên cạnh khẳng định quyền tự do kết hôn và sinh con của công dân, chúng ta cần truyền thông sâu rộng và giáo dục từ phổ thông: để đất nước phát triển bền vững về con người, không có biện pháp nào thay thế được người Việt Nam phải kết hôn và sinh bình quân ít nhất 2,1 con trong mỗi gia đình.

XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Một điều tra xã hội học gần đây ở TP.Hồ Chí Minh cho thấy, nếu theo mong muốn của người lao động ở tuổi sinh sản thì số con bình quân một gia đình sẽ là 2,08, gần bằng TTSS thay thế. Đây là một tin rất vui, một lợi thế rất quan trọng của Việt Nam so với xã hội Nhật Bản và nhiều nước khác hiện nay (Hàn Quốc, Singapore, các nước châu Âu…), do truyền thống văn hóa coi trọng gia đình, coi trọng hạnh phúc gia đình khi có con của người Việt Nam. Tuy nhiên, các điều kiện về thu nhập, chi phí cuộc sống, về cho con đi học, nhà ở, việc làm… không cho phép họ thực hiện nguyện vọng đó.

Thực tế TTSS hiện nay ở TP.Hồ Chí Minh chỉ khoảng 1,4. Nếu sự vênh giữa mong muốn có 2 con và điều kiện thực tế không thể có được 2 con mà hạnh phúc kéo dài khoảng 20 - 30 năm, thì như bài học của Nhật Bản đã chỉ ra, người trẻ sẽ từ bỏ mong muốn có 2 con hoặc nhiều hơn, đó là đại họa cho đất nước.

Vì vậy, vì lợi ích quốc gia, vì tồn vong của dân tộc, Nhà nước phải xây dựng một Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam bền vững 2025 - 2045, để khẳng định quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự cần thiết và các nguyên tắc đảm bảo đất nước phát triển bền vững về con người (về số lượng và chất lượng), xây dựng các chương trình của Chính phủ hỗ trợ gia đình và trẻ em, xác định trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương, trách nhiệm của các doanh nghiệp và các tổ chức để xã hội Việt Nam có môi trường chính trị, môi trường kinh tế, môi trường xã hội, môi trường văn hóa hợp lý, khuyến khích đại đa số công dân trẻ Việt Nam lập gia đình và mỗi gia đình bình quân có 2,1 con.

Nếu làm được như vậy các gia đình Việt Nam sẽ là gia đình hạnh phúc với 2 hoặc 3 con; đồng thời, họ hoàn thành nghĩa vụ công dân yêu nước, đóng góp cho đất nước Việt Nam phát triển bền vững về con người. Thực tế, một tỷ lệ nhỏ thanh niên khi trưởng thành không thể có điều kiện sức khỏe, tâm sinh lý để lập gia đình và có con như đại đa số người khác. Xã hội, Chính phủ, chính quyền địa phương cần chia sẻ với họ, không tạo ra áp lực tâm lý, xã hội về việc kết hôn và sinh con của họ.

Việt Nam phấn đấu là nước thu nhập cao vào năm 2045. TTSS của Việt Nam dự báo sẽ giảm xuống dưới TTSS thay thế vào khoảng năm 2025 - 2027 và sau đó giảm tiếp, TTSS năm 2100 dự báo là khoảng 1,5 và Việt Nam sẽ đối diện nguy cơ tự tiêu vong sau 500 năm, nếu các chính sách hỗ trợ của Chính phủ, sự tham gia của doanh nghiệp để phát triển bền vững con người Việt Nam không có sự thay đổi. Tức là chúng ta còn khoảng 20 năm để đến thời điểm phải chịu hậu quả của thiếu lao động và để ban hành các chính sách đồng bộ mới để người trẻ không mất niềm tin và không thay đổi quan niệm về gia đình và sinh con, dẫn đến phát triển không bền vững về con người.

Nguồn: vneconomy.vn