VIỆN NGHIỆN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

CỔNG THÔNG TIN KINH TẾ VIỆT NAM

Chính sách tài khóa - Chính sách tiền tệ

Giám sát an toàn tài chính-tiền tệ: Nhiệm vụ kép của thể chế

16/04/2014 - 79 Lượt xem

Việc hoàn thiện và nâng cao năng lực giám sát an toàn vĩ mô thị trường tài chính ở Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết, trong đó nhiệm vụ đầu tiên là cần xây dựng một chính sách an toàn vĩ mô phục vụ việc giám sát an toàn vĩ mô dựa trên các tiêu chí, công cụ, phương pháp giám sát hiện đại đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng.

Ba nhiệm vụ chính

Công tác giám sát đảm bảo an toàn tài chính - tiền tệ trước hết cần tập trung vào 3 nhiệm vụ:

Thứ nhất, giám sát an toàn thị trường tài chính vĩ mô và vi mô, hướng tới sự ổn định của toàn bộ thị trường tài chính và đảm bảo duy trì sự ổn định của từng định chế tài chính, bảo vệ được người tiêu dùng trên thị trường tài chính. Thực tiễn cho thấy, các rủi ro của vĩ mô nền kinh tế hay đồng loạt của nhiều định chế tài chính đều ảnh hưởng xấu đến an toàn của hầu hết các định chế tài chính. Bài học phổ biến từ cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế 2008-2009 cho thấy, hầu hết các nước và khu vực đều buông lỏng giám sát an toàn vĩ mô thị trường tài chính, mà tập trung chủ yếu vào việc giám sát an toàn vi mô. Đây cũng là tình hình của chúng ta hiện nay khi mà công tác giám sát an toàn vi mô đang được thực hiện theo cơ chế giám sát theo chuyên ngành với việc Bộ Tài chính giám sát lĩnh vực chứng khoán và bảo hiểm, còn Ngân hàng Nhà nước giám sát lĩnh vực ngân hàng (trong khi tính "liên thông" về luồng tiền và rủi ro giữa 3 lĩnh vực này khá cao) và chưa có một cơ quan có thẩm quyền thực sự giám sát tổng thể vĩ mô thị trường tài chính.

Thứ hai, giám sát độc lập đối với chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, đặc biệt là sự điều phối hoạt động của 2 chính sách này. Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa có quan hệ mật thiết với nhau và đều có tác động quyết định đến kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, chức năng, nhiệm vụ cũng như phương thức tác động đến kinh tế vĩ mô của 2 chính sách này lại rất khác nhau. Trong khi chức năng chính của chính sách tiền tệ là đảm bảo ổn định giá cả (lạm phát) và là nguồn tài chính trực tiếp cho hoạt động kinh doanh thông qua việc sử dụng các công cụ mang tính thị trường, thì chức năng của chính sách tài khóa là đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước (bao gồm cả vấn đề an sinh xã hội) thông qua các quyết định mang tính hành chính của Nhà nước. Vì vậy, Ngân hàng Trung ương của các nước, với chức năng hoạch định và thực hiện chính sách tiền tệ, thường độc lập so với Chính phủ. Bộ Tài chính, với chức năng hoạch định và thực hiện chính sách tài khóa, là cơ quan của Chính phủ.

Ở Việt Nam, hiện cả Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước đều thuộc Chính phủ và có những chức năng (điều hành giá cả) lại thuộc nhiều cơ quan quản lý. Vì vậy, việc nới lỏng cả chính sách tài khóa và tiền tệ để phục hồi tăng trưởng cần được giám sát để đảm bảo sự ổn định của từng lĩnh vực, cũng như sự phối hợp được thực hiện hài hòa, tránh chồng chéo, lấn sân hoặc hạn chế, triệt tiêu lẫn nhau giữa 2 chính sách tài khóa và tiền tệ.

Thứ ba, giám sát đối với tài chính DN (đặc biệt là DN nhà nước, bao gồm cả DN mang tính độc quyền). Dưới quan điểm giám sát đảm bảo an toàn tài chính quốc gia, việc thường xuyên phải giám sát chặt chẽ tình hình tài chính của các DNNN là hết sức quan trọng, vì bất cứ rủi ro hoặc sự đổ vỡ nào của các DNNN đều có thể ảnh hưởng tới tình hình tài chính quốc gia.

Sáu nguyên tắc cơ bản

Thứ nhất, cần xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước theo nguyên tắc “mỗi một vấn đề chỉ do một cơ quan phụ trách”. Trên cơ sở đó, các cơ quan có liên quan cần xác định cơ chế phối hợp và chia xẻ thông tin mang tính pháp lý lẫn cho nhau.

Thứ hai, xây dựng bộ chỉ tiêu cụ thể có tính khoa học và thực tiễn cao mang tính cảnh báo và ràng buộc (ngưỡng) pháp lý cho toàn bộ nền kinh tế, cũng như trong từng lĩnh vực; nâng dần mức độ quản lý từ việc xác định các chỉ tiêu thiên về “định lượng” sang các chỉ tiêu mang tính “định tính” cao, theo đúng thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, xây dựng lộ trình tiến tới thực hiện các chỉ tiêu này càng sớm càng tốt.

Thứ ba, các cơ quan chịu trách nhiệm giám sát tài chính trong từng lĩnh vực cần chú trọng cả giám sát mang tính tuân thủ và giám sát rủi ro.

Hiện nay, hầu hết công tác giám sát tài chính đều được thực hiện mang tính tuân thủ - nghĩa là việc giám sát chủ yếu để kiểm tra luật pháp và chính sát có được thực hiện đúng đắn và phù hợp. Phương pháp giám sát này có thể phù hợp nhất định trong bối cảnh nền kinh tế phát triển ổn định và luật pháp, chính sách phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế khủng hoảng, biến động và khó khăn, các nước đều ngày càng chú trọng hơn tới giám sát mang tính rủi ro.

Bên cạnh đó, cũng cần nghiên cứu, giao nhiệm vụ giám sát an toàn hệ thống tài chính – tiền tệ cho một cơ quan nhất định mang tính độc lập.

Hệ thống tài chính VN đang dựa quá nhiều vào ngân hàng; phát triển quá nhanh nhưng nền tảng hạ tầng còn nhiều khiếm khuyết, khung pháp lý còn thiếu, không khác gì “xây nhà trên cát”.

Thứ tư, để đảm bảo giám sát an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ, điều quan trọng là phải giám sát đảm bảo luôn có dư địa/dự phòng tài chính cần thiết trong từng lĩnh vực. Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính vừa qua cho thấy những nền kinh tế nào có ít dự phòng, dư địa vận hành về tài chính thì bị ảnh hưởng lớn nhất, còn những nước có nhiều dư địa thì ít bị tác động hơn hoặc nếu có thì cũng được khắc phục nhanh chóng. Trong điều kiện nước ta hiện nay, việc xử lý các mâu thuẫn nói trên gặp khó khăn cũng do các dư địa tài chính trong từng lĩnh vực còn quá ít.

Thứ năm, công tác giám sát đảm bảo an toàn tài chính – tiền tệ sẽ phát huy tốt hơn trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Việc ban hành các chính sách mang nặng tính hành chính, hoặc việc nhà nước can thiệp quá mạnh vào thị trường, khó tiên liệu, không phù hợp với quy luật của thị trường, sẽ không những có tác dụng ít hoặc không có tác dụng, mà còn làm méo mó thị trường, gây khó khăn cho công tác giám sát và từ đó, gây những rủi ro, kém hiệu quả và tổn thất về tài chính cho đất nước…

Thứ sáu, công tác giám sát an toàn tài chính - tiền tệ chỉ có thể làm tốt được nếu như có được dựa trên hệ thống dữ liệu thông tin đầy đủ, chính xác và cơ chế công bố thông tin công khai, minh bạch. Điểm khác biệt quan trọng lớn nhất giữa giám sát an toàn tài chính - tiền tệ với các loại hình giám sát khác là công cụ sử dụng chủ yếu là căn cứ vào thông tin và số liệu của các báo cáo. Nếu hệ thống báo cáo có số liệu thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời thì công tác giám sát mới có thể có hiệu quả được và ngược lại.

Vì vậy, chúng ta cần sớm có các quy định cụ thể hóa danh mục các thông tin phải được công bố và cơ quan công bố phải chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác và kịp thời của những thông tin này. Hơn nữa, thông tin được công bố phải phù hợp với thông lệ quốc tế tối đa và kèm theo những giải thích với những số liệu mang tính đặc thù. Đồng thời, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các diễn đàn phân tích, đánh giá và trao đổi giữa các chuyên gia và giữa các chuyên gia với cơ quan quản lý nhà nước về tình hình cũng như các số liệu được công bố...

 

Kẽ hở trong giám sát tài chính

Cùng với sự phát triển nhanh của thị trường tài chính, Việt Nam đã tổ chức hệ thống giám sát chuyên ngành với nhiều định chế cùng tham gia như: Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia (NFSC), Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính... nhưng giữa các cơ quan này chưa có thông tư liên tịch về phối hợp nên hiệu quả công tác giám sát vẫn còn hạn chế.

Ông Roberto Rocha, cố vấn cấp cao của World Bank, cho rằng hệ thống tài chính Việt Nam đang dựa quá nhiều vào ngân hàng trong khi ngân hàng chiếm tới 200% GDP và 92% tài sản của cả hệ thống tài chính. Các ngân hàng cũng đang phải thực hiện quá nhiều chức năng và gánh nhiều rủi ro. Hệ thống tài chính Việt Nam phát triển quá nhanh nhưng nền tảng hạ tầng tài chính còn nhiều khiếm khuyết, khung pháp lý còn thiếu, không khác gì xây nhà trên cát.

Thị trường phát triển nhanh chóng đã kéo theo nhiều bất cập, trình độ quản trị điều hành, giám sát từng định chế và toàn bộ thị trường chưa bắt kịp với tốc độ phát triển nhanh chóng của thị trường tài chính. Bên cạnh đó, vẫn tồn tại khoảng cách lớn của Việt Nam với chuẩn mực an toàn và giám sát tài chính của khu vực và thế giới. Minh chứng cho sự hạn chế này là đã có không ít các loại hình hoạt động mang bản chất ngân hàng nhưng chưa được quy định trong khuôn khổ kiểm soát của các cơ quan quản lý. Đó là các tập đoàn tài chính với mô hình công ty mẹ là ngân hàng thương mại (NHTM) và các công ty con, công ty liên kết  là các công ty chứng khoán, bảo hiểm tạo nhiều rủi ro qua giao dịch nội bộ, sở hữu chéo.

Sự việc 7 NHTM cùng nhận thế chấp 1 kho cà phê dẫn đến tranh chấp tài sản thế chấp là ví dụ điển hình được nêu để minh chứng cho điểm yếu và khoảng trống trong giám sát hệ thống tài chính ở Việt Nam. Nhận định về vấn đề này, TS Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch NFSC, khẳng định: “Không loại trừ khả năng DN lừa đảo nhưng vụ việc này cho thấy kẽ hở trong quản lý rủi ro của các NHTM và kẽ hở của hệ thống pháp luật. Hệ thống giám sát tài chính Việt Nam thiếu năng lực giám sát lẫn khả năng thực thi và quyền của chủ nợ vẫn còn yếu”.

Các chuyên gia đã cùng cho rằng không có một mô hình giám sát tài chính tối ưu bởi các kinh nghiệm thành công và thất bại là đan xen. Việc thiết kế các mô hình giám sát tài chính phụ thuộc một phần vào mô thức tổ chức thị trường tài chính ở các nước, độ sâu tài chính, trình độ phát triển kinh tế, kể cả các đặc điểm về văn hóa, chính trị lẫn các khuôn khổ thể chế và quản trị nhà nước của một quốc gia.

 

TS. Hà Huy TuấnPhó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia

Nguồn: dddn.com.vn